ĐIẾU VĂN TƯỞNG NIỆM TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG 
 
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật,
Nam mô A Di Đà Phật,
Kính bạch Giác Linh Đức Trưởng Lão Hoà Thượng thuỳ từ chứng giám,
Hôm nay Chủ Nhật ngày 13 tháng 9 năm 2015, tức ngày 1 tháng 8 Ất mùi,  chúng con Ni chúng và  Phật tử Chùa Đức viên, thành phố San Jose, tiểu bang Cali, quỳ trước di ảnh Ngài, thành kính dâng lên nén tâm hương, nguyện cầu Giác Linh Đức Trưởng Lão "Sa Bà báo mãn, Cực Lạc hoa khai, sinh tử băng tiêu, chân thân tự tại." Đồng thời chúng con cũng kính dâng lên nỗi niềm kính quý ân sâu vô vàn của chúng con.
Kính bạch Giác Linh  Đức Trưởng Lão Hoà Thượng,
Kể từ ngày Sư Bà Đức Viên vắng bóng, đã hơn 16 năm, là 16 lần chúng con được Ngài nhận lời quang lâm chứng minh lễ huý nhật của Sư Bà toạ chủ chùa Đức Viên. Dẫu tuổi già sức yếu, đường xa, Phật sự quá nhiều, mà không một lần nào Ngài từ chối. Lần cuối, tháng 3 vừa rồi, vì sức khoẻ không cho phép và Ngài cũng không thể gắng thêm được nữa, Ngài đã phải huỷ vé bay vào giờ chót, gọi điện thoại báo cho chúng con biết Ngài không sang Đức Viên được. Chúng con nghe tin Ngài lòng trĩu nặng thật là buồn! 
Kể từ đó, chúng con nơm nớp lo sợ, Ngài sẽ không còn trụ thế bao lâu nữa. Mới vài tuần trước đây, sau khoá an cư tại Tu Viện Viên Quang, được tin Ngài phải bay về lại Canada gấp, chúng con lo lắng hỏi thăm sức khoẻ, giọng Ngài vẫn ôn tồn và an định tâm chúng con với câu "không sao đâu con, có mệt chút xíu, các con biết lo tu tập, chị em sách tấn nhau là quý lắm, đợi ra hạ rồi Thầy xem.” Nhưng rồi có ra hạ được đâu!   chỉ mới có vài tuần trôi qua thôi, chúng con đã phải đeo vành khăn tang, tiễn đưa Ngài về cõi Phật. Khi niệm Phật chúng con luôn nhớ lời Ngài được ghi trong câu đối của chánh điện Tổ đình Từ Quang: 
Một dạ tinh thành niệm niệm không quên miền Cực Lạc,
Sáu thời miên mật tâm tâm hằng tưởng chốn Liên trì. 
Hồi tưởng lại hạnh nguyện cao cả của Ngài,
Những năm tháng trước đây, khi Sư Bà Đức Viên mới viên tịch. Ngài và chư Tôn Đức rất lo lắng cho sự tu tập của Ni chúng. Sợ rằng sức tu yếu kém của chúng con khó thể chu toàn việc Tam Bảo, tiếp tục dự án kiến tạo tùng lâm và  tâm nguyện độ sinh của Sư Bà đang còn dang dở, Ngài đã liên tục có mặt tại Đức Viên suốt 15 năm trường, khuyến hoá, dặn dò, dạy bảo hàng cư sĩ phát tâm ngoại hộ, với lời kêu gọi của Ngài mà ai ai cũng ghi nhớ là: "Các Phật tử đừng để nhà băng kéo Chùa …" nhờ vậy chúng con có được nơi ăn, chốn ở tươm tất và yên ổn tu học đến hôm nay.
"Sắc không một phút tuy tan mộng,
Đạo nghĩa nghìn năm vẫn tạc lòng.”
Kính bạch Giác Linh Đức Trưởng Lão,
Thế là từ nay Ni chúng và hàng Phật tử chúng con không còn đủ thắng duyên được Ngài truyền trao giới pháp.  Ôi, mới ngày nào, mỗi khi Ngài đăng đàn truyền Tam Quy Ngũ Giới và Bồ Tát giới, tất cả Tăng ni, Phật tử chúng con đều cúi đầu kính lễ trước trí tuệ  siêu việt của Ngài, vì Ngài thuộc nằm lòng hết các nghi thức truyền giới, nhất là giới đàn Bồ Tát giới. Trong khi chúng con cầm bổn, mở từng trang Kinh Luật, vẫn theo Ngài không kịp.
Ngài để lại cho hậu học nhiều bản dịch kinh sách (chi tiết xin xem phần tiểu sử). Một trong những tác phẩm gần nhất là quyển "Ngũ Bách Danh. Mặc dù bận Phật sự nhiều nơi và đang chuẩn bị họp đại hội của Giáo hội, Ngài vẫn từ bi dành thời gian phiên dịch cho chúng con hiểu nghĩa từng chữ từng câu về hạnh nguyện cao vời của Bồ Tát Thế Âm. 
Chúng con đời này kiếp này khó thể được gặp một bậc minh sư đạo cao, đức trọng, có tác phong của các bậc Tổ đức ngày xưa như Ngài. 
"Giấc mộng phù sinh vẫn thế thôi,
Nhục, vinh, thành, bại mặc cho đời,
Lòng trong ôm ấp đời và đạo,
Chùng với thiên nhiên nở nụ cười.”
( Cánh Hoa Tâm)
Đức Trưởng lão Hoà Thượng đã oằn đôi vai gầy gánh vác Phật sự của khắp nơi, với bao lo âu và cũng khá nhiều phiền toái, nhưng hạnh nguyện vị tha không ngăn cản bước chân hoá độ của Ngài. Phật sự đa đoan, các lễ lớn của các Giáo hội, các ngôi Chùa lớn nhỏ xa gần thỉnh mời, Ngài đều hoan hỷ tham dự và ban đạo từ.  Dù bất cứ nơi đâu, nghe có vị Thầy, hoặc Sư Cô nào mới mua đất lập chùa, không kể lớn hay nhỏ, gần hoặc xa, dù thuộc tông phái nào, khi đủ duyên, Đức Trưởng Lão Hoà Thượng đều thân hành đến viếng thăm khích lệ, khuyến tu  học và hành đạo lợi ích chúng sinh. 
Cảm động nhất là hình ảnh tận tuỵ của Ngài, với tấm y vàng quấn gọn bên vai, tay chống gậy đi từng bước thật chắc, thật vững tham dự hầu hết tang lễ của quý Hoà Thượng cùng thời với Ngài.  Vẫn một lời khẩn cầu Chư Tôn Đức hồi nhập Sa bà hoá độ chúng sanh; khiến tất cả chúng con đều tâm cảm được sự trung kiên, khắc khoải của Ngài đối với tiền đồ Phật giáo Việt Nam
Với quê hương VIỆT NAM Ngài tha thiết nhớ quê như con thơ nhớ mẹ, nhưng rồi đã hơn 50 năm, Ngài chưa một lần trở lại thăm quê.…Nỗi nhớ đó được cô đọng trong tập thơ "Tỉnh Mộng Đời” khi một thân đơn lẻ sống nơi xứ lạ quê người vào những năm của thập niên 1970.
"Mỗi độ thu về lá rụng rơi,
Mỗi lần mưa đổ mịt chân trời,
Mỗi đêm thanh vắng, Giao- Thừa đến, 
Là lúc hồn quê vât rã rời.”
Nỗi niềm thương nhớ quê hương của Ngài được thể hiện qua cách chăm sóc cây xanh trong vườn chùa, nào cây hoa sói, hoa lài, hoa đỗ quyên, hoa cúc, hoa huệ... Ngài nuôi toàn những cây mang hương vị đậm đà tình quê hương dân tộc.
Hình ảnh đức Trưởng Lão Hòa Thượng in đậm trong tâm trí chúng con và mọi người  mà không ai có thể quên được là Ngài đứng phát kẹo cho bất cứ ai ra đón ngài tại phi trường và gặp xin được đỉnh lễ.  Có lần chúng con thấy Ngài mang cả mấy ký lô kẹo trong túi hành lý, không ngại khó vì xách nặng mà với tâm hỷ xả ban vui cho mọi người, nên Ngài bảo có chút kẹo cho lộc để mọi người vui.  Hành lý nặng đã đành, sau chuyến bay đường dài rất mệt, mà Ngài vẫn hoan hỷ, nhẫn nại lần lượt phát từng cái kẹo quế thơm ngon cho đến người cuối cùng rồi mới lên xe  về Chùa an tâm nghỉ ngơi.
Hạnh nguyện của vị Bồ Tát quên mình ban vui cho chúng sanh. Ôi! Có người bệnh nào mà quên cái khổ của mình, để nghĩ đến sự an toàn cho những người chung quanh như Ngài, vào những ngày cuối, khi thị hiện kham chịu sự khó thở, bức rức vì thân tứ đại bất hòa. Nhưng khi nghe có đệ tử nào đang trên đường về Tổ Đình Từ Quang viếng thăm, Ngài đều trải lòng từ bi quan tâm lo lắng cả. Dù vị đó đã từng làm Ngài bận tâm khi còn được sự giáo hoá trực tiếp của Ngài. Ngài vẫn khẽ nhắc hỏi thăm các vị đệ tử đã đến nơi an toàn chưa.
Bởi Đức Trưởng Lão Hoà Thượng đã,
Sạch hết mọi oán thân não chướng,
Lòng trạm nhiên quán tưởng chân không,
Dấn thân giữa chốn bụi hồng,
Ưng vô sở trụ ngay trong cõi người,
 Thế rồi theo quy luật của vũ trụ, đức Trưởng lão HT đã trả thân tứ đại lại cho đời, siêu đăng Phật quốc vào cuối mùa an cư kiết hạ của Chư Tăng.
Thân tứ đại phải về nơi tứ đại,
Cõi hồng trần ai cũng phải ra đi.
Đường sanh diệt sầu bi đã dứt bỏ,
Xả báo thân thị tịch Niết bàn,
Kính bạch Giác linh Đức Trưởng lão HT. một thế kỷ đã trôi qua, đời người vô thường chóng vánh, 95 năm kiếp tạm, để lại một chút hơi tàn giữa đất trời sương pha tuyết lạnh,  Hoà Thượng về Cực Lạc an vui, chúng con ở lại cõi Ta bà thương nhớ một bậc chân tu khả kính.
Giờ đây chúng con thành tâm kiền thỉnh Đức Trưởng Lão Hoà thượng lai lâm chứng giám cho t ấm lo.
Nam mô Lưu Phương Tháp, Trúc Lâm Yên Tử, Vĩnh Nghiêm, Phượng Ban Pháp Phái Ma Ha Tỳ Kheo Bồ Tát Giới Thích Tâm Châu, tự Tuệ Hải, Đoàn Công Trưởng Lão Hoà Thượng Giác Linh thiền toạ hạ. (3lễ).

--------------------------------

  
LỄ PHÁT TANG

Trong giây phút thiêng liêng, quỳ trước Giác linh Ngài, nhìn lên di ảnh thân thương hiền hoà khả kính, từ ái bao dung, mà lòng chúng con vô cùng đau xót.  Chúng con xin được thành kính đảnh lễ Giác linh Ngài muôn ngàn lạy, với tất cả tấm lòng chân thành, cảm đội ân đức sâu dày đối với một bậc Tôn sư quy kính muôn đời đã viên thành đại nguyện. 
Nguyện cầu Phật Tổ gia hộ cho Đức Trưởng Lão Hoà Thượng liên hoa thác hoá, tái hiện đàm hoa, Tịnh Độ Ta Bà, vãng lai tự tại.  Đồng thời chúng con xin nguyện lấy cuộc đời đạo hạnh của Ngài làm tấm gương sáng, vận dụng vào thân tâm mình để tiến tu đạo nghiệp hầu được vãng sanh ngay trong kiếp này. 
Người trí khác nào trăng trên không,
Chiếu soi khắp cõi sáng vô cùng,
Nếu ai cần biết nên phân biệt,
Khói mù man mác tỏa non chiều,
Nam mô Lưu Phương Tháp, Trúc Lâm Yên Tử, Vĩnh Nghiêm, Phượng Ban Pháp Phái Ma Ha Tỳ Kheo Bồ Tát Giới Thích Tâm Châu, tự Tuệ Hải, Đoàn Công Trưởng Lão Hoà Thượng Giác Linh thiền toạ hạ. (3lễ).
 
-------------------------------- 
 
 
CẢM NIỆM ÂN SƯ

Nam Mô A Di Đà Phật,
Kính bạch Giác linh Thầy,
Chúng con kính nghe : Cha mẹ sinh thân ngũ uẩn, Thầy Tổ tác thành giới thân tuệ mạng. Thân ngũ uẩn thì trôi lăn trong sinh tử, thân tuệ mạng thì vượt ngoài tử sinh. Ân đức ấy như trời cao biển rộng, suốt trăm ngàn kiếp không thể nào báo đáp được.
Hơn chín mươi năm trong cuộc thế, Thầy luôn tận tình tế độ, giáo dưỡng chúng con. Thầy lấy đức từ hóa độ quần mê, lấy bao dung đối nhân xử thế. Thầy lo cho chúng con khi trái nắng trở trời, dạy chúng con từng tế hạnh oai nghi. Chúng con chưa báo đáp được thâm ân giáo dưỡng mà thầy đã quẩy dép về Tây. Tuy biết cuộc đời là vô thường, nhân sinh là gỉa tạm nhưng chúng con không cầm được nước mắt khi traí tim nhân hậu, bao dung của Thầy ngừng đập. 
Những tưởng chúng con được đón Thầy về quê xưa để sớm hôm thường định tỉnh nhưng nào ngờ đất khách thầy ra đi để đất thảm trời sầu.
Thế là Tổ đình Kim Liên chỉ còn lưu dấu tích của đồng tử khi xưa còn Thầy thì mãi mãi ra đi như dòng sông không bao giờ trở lại để tháp chín tầng nơi Quốc tự Việt Nam vẫn tháng năm ngóng trông bước chân bậc Viện trưởng.
Tổ đình vẫn còn đó nhưng hình bóng Thầy đâu rồi? Biết lấy ai dạy  Bước Đầu Học Phật? Từ Quang vẫn còn đây nhưng tôn dung Thầy không còn nữa, biết hỏi ai bài Thiền Lâm Bảo Huấn? Để từ đây thiền thất sớm chiều chìm trong sương không sắc, phương bào ngày tháng lạnh theo gía sắc không.
Mới  tháng trước Thầy còn nắm chặt tay con ân cần dạy bảo nhưng bây giờ Thầy đã buông nhẹ hai tay, xả bỏ tất cả, Thầy đã xả bỏ tất cả vinh nhục, thăng trầm, buồn vui, được mất trong chín mươi lăm năm của cảnh trầm luân thế nhân để trở về quê hương tịnh cảnh có gió thổi là vi diệu pháp, có chim kêu là đạo nhiệm mầu.
Trước phút giây ngàn thu vĩnh biệt này, chúng con cúi đầu kính lạy Thầy ba lạy : Lạy thứ nhất thâm tạ công ân tác thành giới thân tuệ mạng, lạy thứ hai tri ân giáo dưỡng nên người, lạy thứ ba xin vĩnh biệt Thầy . Xin Thầy từ bi chứng giám.
NAM MÔ LƯU PHƯƠNG THÁP TRÚC LÂM YÊN TỬ, VĨNH NGHIÊM, PHƯỢNG BAN PHÁP PHÁI ĐỆ LỤC THẾ, MA HA SA MÔN TỲ KHƯU BỒ TÁT GIỚI, VIỆT NAM PHẬT GIÁO THỐNG NHẤT GIÁO HỘI VIỆN HÓA ĐẠO ĐỆ NHẤT VIỆN TRƯỞNG, THẾ GIỚI VIỆT NAM PHẬT GIÁO GIÁO HỘI THƯỢNG THỦ PHÁP DANH THANH MINH, PHÁP HIỆU TÂM CHÂU, TỰ TUỆ HẢI, ĐOÀN CÔNG TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG BỔN SƯ GIÁC LINH THÙY TỪ CHỨNG GIÁM./.
                                                                     Canada , 24/08/2015
                                                                         Pháp tử Giác Dũng
                                                                              Khấp bái
 
--------------------------------  
 
 
KHÓC BIỆT ÂN SƯ 

TRƯỞNG-LÃO HÒA-THƯỢNG THƯỢNG TÂM HẠ CHÂU

Ngưỡng bạch Giác linh Trưởng lão HT ân sư
Lạy Thầy kính yêu,
Thế là Thầy đã giã biệt chúng con để đi vào Cõi Phật, sau 95 năm trụ thế để hóa độ chúng sinh, hiển dương Phật pháp. Hàng sơ cơ hậu học chúng con đã có phúc duyên được hầu hạ dưới chân Thầy trong 30 năm cuối, nơi đất khách, quê người. Ba mươi năm đã trôi qua, mau chóng như một giấc mộng, nhưng chứa đựng biết  bao nhiêu kỷ niệm có vui có buồn và đều thấm nhuần ân tình sư đệ. 
Ba mươi năm qua cũng là thời gian mà chúng con đã được nhận ân sủng của Thầy, giáo hóa chúng con bằng thân-giáo, qua chính những cách cư sử của Thầy, trong đạo, ngoài đời, chứa đầy đức từ bi của Nhà Phật cũng như lòng nhân hậu của Nho gia. Đệ tử chúng con đã học được rất nhiều trong cách đối sử với các bạn đồng môn, đồng đạo, và đồng bào; cũng như đối với quốc gia, dân tộc và đạo pháp.
Hồi tưởng lại khi Quê Hương còn đắm chìm dưới ách ngoại bang, đôi lúc có hai, ba binh đoàn ngoại quốc cùng sâu xé đất Mẹ, tạo nạn đói năm Ất Dậu, sát hại hàng triệu dân lành.  Trong cảnh lầm than đó, Thầy đã tận lực gom xác nạn nhân chết trên đường, chết dưới gầm cầu, nhiều khi xác của cả nhà, để siêu độ và hỏa táng. 
Khi Đất Nước bị chia đôi vì quốc nạn, Thầy đã chọn miền đất lành để gieo trồng hạt giống Từ Bi, tiếp tục sứ mệnh của một trưởng tử Như Lai tại Miền Nam hiền hòa. Kịp đến Pháp nạn thập niên 60, Thầy gạt nước mắt, vén tay áo, cùng hàng giáo phẩm và chúng giáo đồ xông vào rừng đao, trận kiếm, với hai bàn tay trắng và tấm lòng son, kiên gan bảo vệ Đạo Pháp. 
Tàn cơn Pháp nạn , Thầy đã gia công gieo trồng vun xới hạt bồ đề để Phật Giáo có cơ hội phát triển rực rỡ hơn xưa. Thời gian Thầy trụ tại Viện Hóa Đạo tương ứng với thời kỳ PG Miền Nam hưng thịnh và phát triển. Tiếng lành lan truyền đến các nước lân bang, gây niềm phấn khởi cho PG đồ toàn Thế giới. Đó chính là lúc PG VN qui tụ giáo chúng thành một khối, bao gồm nhiều tông phái, tông môn, sau bao nhiêu thế kỷ phân tán trong dân gian. 
Nhưng tiếc thương thay, bao công phu, nỗ lực của Thầy để gây dựng và phát triển PG Miền Nam đã trong giây phút tan rã khi những người mang dép lạ, tiến chiếm Miền Nam trù phú. Trước đại nạn Tháng Tư Đen, Thầy đang trên đường làm Phật sự, đã quyết định chọn Tự Do,  không trở về quê nhà, nơi ác quỷ tung hoành, gây bao nghiệp chướng. Thầy đã tạm trú trong đôi ba quốc gia trước khi quyết định thường trú tại Gia Nã Đại. Từ nơi đây như  điểm xuất phát, Thầy đã gieo rắc những hạt giống Từ Bi đầu tiên trên Miền Bắc Mỹ Châu, xuyên qua sự thành lập và phát triển các tự viện Liên Hoa, Chân Như, Di-Đà tại Canada hay Giác Hoàng tại Hoa kỳ. Và tiếp theo còn biết bao cảnh già lam khác, trong suốt 30 năm trường. 
Trong quãng đời dài ngót một thế kỷ, Thầy đã dùng 30 năm cuối cùng để tận lực đấu tranh cho Quê-Hương, Dân tộc đang đắm chìm trong lửa đỏ, oan khiên chất cao hơn núi. Cuộc tranh đấu cuối cùng này tuy chưa đạt được kết quả mong muốn nhưng nó tương xứng với cuộc tranh-đấu cho tự-do tôn-giáo trong thập niên 60. Tấm lòng son sắt của Thầy đối với Quê-Hương, Dân Tộc và Đạo Pháp đã không hề phai nhạt với thời gian, trong hai cuộc chiến dành tự-do trong tay các thể chế độc-tài toàn-trị, khuynh-hữu và khuynh-tả. Cuộc đời của Thầy cứ như thế, gắn liền với dòng sinh-mệnh của dân-tộc, trong sáng như  ánh Đạo Vàng, đẹp như lòng Từ Bi và thơm ngát mùi hoa Sen thanh-khiết. Đó chính là tấm gương rực rỡ muôn đời để chúng con chiêm ngưỡng và nguyện cố gắng noi theo, trong muôn một.
Thầy ơi !
Vài phút nữa đây nhục thân Thầy rồi sẽ thành tro bụi trong sát na, nhưng trí tuệ Thầy vẫn sáng chói như Ngọc Ma-ni.
Thân xác tứ đại Thầy như núi Thái, cũng sẽ suy sụp. Nhưng Đức độ Thầy vẫn sừng sững như núi Tu Di, làm cột trụ cho hàng hậu học chúng con noi theo.
Khi sinh-tiền, Thầy là ngọn hải đăng hướng dẫn chúng sinh trong cơn bão táp. Khi viên tịch, Thầy là ngôi sao Bắc Đẩu khai đường, chỉ nẻo cho mọi sinh linh.
Thầy ơi !
Chúng con biết là Thầy mất ở quốc độ này để hóa sinh sang quốc độ khác. Nhưng dù biết thế chúng con cũng không tránh được dòng cảm thương Thầy trong phút giây cuối cùng này. 
Thầy ơi ! Thầy ơi!
Thầy mãi mãi vẫn  sống trong lòng chúng con ! Mãi mãi ....
Phật tử Tổ Đình Từ Quang Canada,
Tuệ Bảo,
Ngưỡng cầu chư Phật thùy từ đón tiếp giác linh Hòa Thượng ân sư.
NAM MÔ TIẾP DẪN ĐẠO SƯ ADI ĐÀ PHẬT
 
--------------------------------   
 
 
TIỂU SỬ
ĐỨC TRƯỞNG  LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH TÂM CHÂU
THƯỢNG THỦ GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VN TRÊN THẾ GIỚI
KHAI SƠN TỔ ĐÌNH TỪ QUANG - CANADA
--0--
I. THÂN THẾ :
Ngài sinh trong gia đình họ Đoàn, thế danh Đoàn Văn Hoành, sinh ngày 02 tháng 11 năm 1921 (Tân Dậu) tại tỉnh Ninh Bình, là người con trai út trong gia đình có bốn anh em trai. 
Do có căn lành từ  nhiều đời về trước nên năm 11 tuổi Ngài xuất gia, thờ Sư Tổ Thích Thanh Kính thuộc chốn Tổ Phượng Ban tỉnh Ninh Bình làm thầy tế độ. Tuy tuổi còn nhỏ nhưng Ngài luôn tinh tấn tu học nên chẳng bao lâu được bổn sư cho thọ giới. Năm 20 tuổi, Ngài đăng đàn thụ giới Tỳ Khưu, và giới Bồ Tát nơi Sư Tổ Thích Đức Nhuận tức đức đệ nhất Pháp chủ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam sau này. Sau khi thụ giới, với chí tiến tu, Ngài du phương tham học tại các chốn Tổ danh tiếng lúc bấy giờ như chùa Đồng Đắc, chùa Phúc Chỉnh, chùa Phù Lãng, chùa Quán Sứ.
II. HÀNH ĐẠO :
Sau khi du phương học Đạo, Ngài trở về hành đạo tại chốn Tổ Đồng Đắc và Phượng Ban với chức vụ tri sự. Ngoài những trách vụ được giao phó tại chốn Tổ, Ngài còn đi diễn giảng, hành lễ khắp các tỉnh thuộc miền Bắc lúc bấy giờ. Theo sự chỉ dạy của Thầy Tổ, Ngài nhận trụ trì chùa Phúc Điền (Kim Sơn, Ninh Bình) và đặc biệt, khai sáng chùa Quang Nghiêm tại thành phố Hạ Long.
Là một tăng sĩ trẻ, Ngài luôn dấn thân trong mọi Phật sự trong cũng như ngoài tỉnh, được Phật tử kính ngưỡng, đồng đạo yêu mến, nên năm 1951, với độ tuổi 30, Ngài đại diện đoàn đại biểu Phật giáo miền Bắc vào Huế thành lập Tổng hội Phật giáo Việt Nam. Đây là giáo hội thống nhất đầu tiên của Phật giáo Việt Nam sau bao nhiêu năm điêu linh cùng vận mệnh của đất nước. 
Ngoài các trách vụ được Giáo hội giao phó, Ngài luôn tham gia tích cực các hoạt động của phong trào chấn hưng Phật giáo lúc bấy giờ.
Ngày 14 tháng 9 năm 1952, Giáo hội Tăng già Việt Nam được thành lập, tại Chùa Quán Sứ, Ngài đảm nhận Trị sự phó kiêm Tri tạng. 
Ngài đã đem tất cả hùng tâm tráng trí của thanh niên tăng hiến dâng cho Đạo pháp, cho quê hương, những mong chấn hưng Phật giáo, quang huy dân tộc.  Nhưng, nào ngờ, thời thế thay đổi, dòng Bến Hải chia đôi đất Mẹ, một đất nước mà hai thể chế, năm 1954 Ngài ngậm ngùi giã biệt Thầy Tổ, xa lìa quê cha, cùng hơn 100 vị tăng ni xuôi tàu vào Nam hành Đạo.
Khi vừa đặt chân đến miền Nam, Ngài liền xây dựng chùa Giác Minh để làm nơi cư trú, hành Đạo của chư tăng miền Bắc di cư vào Nam và Ngài là viện chủ đầu tiên của chùa. Tại đây, Ngài thành lập Giáo hội Tăng già Bắc việt tại miền Nam và Ngài đảm nhận chức vụ Chủ tịch. 
Cũng trong năm này, Ngài lên Buôn Mê Thuột xây dựng chùa Phổ Minh để cho Phật tử di cư có nơi hành lễ và tu tập. Sau đó, do nhu cầu tu học của Phật tử ngày càng tăng, Ngài kiến tạo thêm chùa Từ Quang và thành lập Hội Quan Âm Phổ Chiếu, hướng dẫn Phật tử tu tập, thực hành theo hạnh nguyện từ bi cứu khổ độ sinh của bồ tát Quan Thế Âm. 
Đầu năm 1963, Ngài được suy cử vào chức vụ Chủ tịch Ủy ban Liên phái  Phật giáo chống phim Sakya - bộ phim xuyên tạc Phật giáo, bị các nước Đông Nam Á phản đối .
Tháng 5 năm 1963, khi chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp Phật giáo, lúc này Ngài chỉ mới có 42 tuổi đời, đã phải làm Chủ tịch Ủy ban Liên phái Bảo vệ Phật giáo để lãnh đạo tăng, ni, Phật tử chống lại sự đàn áp Phật giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm. Ngài đã tích cực lãnh đạo cuộc tranh đấu đòi quyền bình đẳng tôn giáo nên Ngài cùng một số vị lãnh đạo Phong trào lúc bấy giờ chịu cảnh lao tù một thời gian dài.
Khi cuộc đấu tranh đòi quyền bình đẳng tôn giáo thành công, chính quyền Ngô Đình Diệm sụp đổ, các giáo phái, hội đoàn Phật giáo lại đồng thanh suy cử Ngài làm Trưởng ban Tổ chức để thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất.
Năm 1964, Ngài làm Viện trưởng Viện Hóa đạo đầu tiên của Giáo hội. Với tư cách Viện trưởng, Ngài xây dựng ngôi Chùa chung cho cả nước, có tên là Việt Nam Phật Quốc Tự, tại đường Trần Quốc Toản (nay là 3 Tháng 2) Sài Gòn 
 Những năm này, đối với các nước láng giềng, Ngài là một trong những sáng lập viên thành lập Giáo hội Phật giáo Tăng già Thế giới tại Tích Lan và được bầu vào chức vụ Phó Chủ tịch  vào năm 1966.
1970 Ngài giữ chức vụ Chủ Tịch Hội Phật Giáo Liên Hiệp Thế Giới tại Đại Hàn.
Sau đó Ngài thành lập Hội Phật Giáo Thế giới Phụng sự xã hội, để thực hiện hạnh nguyện từ bi cứu khổ độ sinh của Bồ Tát Quan Thế Âm.
  Trở lại đất Việt, Suốt từ miền Trung vào miền Nam Việt Nam, Ngài thành lập hàng trăm ngôi chùa có chữ TỪ đứng đầu như  chùa Từ Phước ở Đà Nẵng; Từ Hưng ở Buôn Mê Thuộc; Từ Ân ở Nha Trang;  Từ Quang, Từ Thắng ở Vũng Tàu; Từ Khánh, Từ Tân, Từ Thọ, Từ Long ở Sài Gòn và  một  số Chùa hiện nay đã đổi tên khác ... Ngài còn sáng lập Quan Âm Tu viện tại quận Phú Nhuận, Sài Gòn.
Biến cố 1975 xảy ra, lúc bấy giờ Ngài đang dự Đại Hội Phật Giáo tại Tích Lan, và thời cuộc đổi thay, Ngài không trở lại quê hương được nữa, đành ngậm ngùi một thân đơn lẻ hành đạo nơi xứ lạ quê người. 
Đầu tiên, Ngài dừng chân tại nước Pháp. Tại đây, Ngài tạo dựng chùa Từ Quang tại thành phố Nice, lãnh đạo tinh thần Hội Phật giáo Pháp-Việt chùa Hồng Hiên tại Pháp và tích cực kiến thiết cảnh trí ngôi Chùa này mang vóc dáng Chùa cổ Việt Nam.
Từ dạo đó trở đi, Ngài thường xuyên qua lại các nước Canada và Mỹ, hướng dẫn tinh thần cho các Phật tử Việt Nam xa quê hương, khuyến khích Phật tử xây dựng Chùa, niệm Phật đường và các trung  tâm tu học Phật pháp tại các nước như Canada, Pháp, Mỹ.
Ngài thường đảm nhiệm ngôi vị Hoà Thượng đàn đầu truyền trao giới pháp trong các Đại Giới đàn cho Tăng Ni ở các nơi.
Năm 1982, Ngài khai sơn Tổ đình Từ Quang tại Montreal, Canada.
Từ năm 1984- Ngàiđược thỉnh cử vào ngôi vị thượng thủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam trên Thế giới, gồm các thành viên từ khắp các nước Gia Nã Đại, Úc Đại Lợi, Pháp và Hoa Kỳ. 
Năm 2008, tuy đã ngoài 80 tuổi nhưng nghĩ tới ân đức vô biên của Tam bảo, Ngài tích cực chống gậy khai sơn Tu viện Viên Quang tại South Carolina, Hoa Kỳ. Diện tích tu viện 40 mẫu vuông, cây cảnh xanh tươi, có những cây cầu bắc ngang qua dòng suối trong mát mẻ, có tiếng gà gáy thức nhắc mọi người mỗi sáng chiều.
Tại đây có ba ngọn đồi, an vị 3 vị Phật quá khứ, Phật hiện tại, và Phật vị lai.  Ngài đã xây dựng được Ngôi Bảo Pháp Đường, có lầu trống, có tháp chuông, tiếng chuông ngân nga trong mỗi chiều tịch mịch của núi rừng. Phật tử đến Tu viện như được trở về ngôi Chùa cổ miền Bắc Việt Nam với non nước hữu tình.
III. DỊCH KINH:
Hơn 80 năm tu Đạo và hành Đạo, Ngài luôn nhiệt tâm tinh cần trong mọi Phật sự : Xây dựng Phật đường, kiến tạo già lam, lãnh đạo giáo hội, Bảo vệ Phật Giáo, thuyết pháp giảng kinh, hướng dẫn tu học, tiếp nhân độ chúng,... Nhưng có một sự việc Ngài luôn cho là trọng đại hơn tất cả. Đó là trước tác và phiên dịch kinh điển. Cho dù Phật sự đa đoan đến đâu, khi về đến chùa, Ngài không rời án kinh, miệt mài viết sách, dịch kinh. Ngài bắt đầu sự nghiệp này từ khi còn là một thanh niên Tăng cho đến khi xả bỏ báo thân. 
Các dịch phẩm của Ngài để lại rất nhiều những Kinh điển Đại Thừa hơn 50 bộ Kinh.  Gần đây nhất là Kinh Ngũ Bách Danh, lời dịch trong sáng, nghĩa lý sâu xa, âm vận dễ tụng khiến cho người đọc tưởng chừng như có điệu nhạc trong Kinh. Đồng thời Ngài cũng lưu lại cho đàn hậu học những trước tác quý báu, khai mở trí tuệ, dẫn đường cho hàng đệ tử đi vào chánh pháp qua nhiều thể loại thơ phú, truyện kể, văn xuôi.
IV. VIÊN TỊCH :
Tháng 7 năm 2015, tuy thân tứ đại không được khỏe nhưng Ngài vẫn tổ chức khóa nghiên tu theo chương trình đã hoạch định tại Tu viện Viên Quang, Hoa Kỳ. Khi khóa nghiên tu kết thúc, nhận thấy sức khỏe yếu nhiều, Ngài liền trở về Tổ đình Từ Quang, Canada. Về tới nơi, biết hóa duyên sắp mãn, Ngài cho gọi tất cả đệ tử trở về Tổ đình và ân cần dặn dò, dạy bảo. Sau đó, các đệ tử luân phiên niệm Phật trợ niệm bên Ngài. Khi chuông đồng hồ điểm 10 giờ 15 phút ngày 20 tháng 08 năm 2015 tức ngày 07 tháng 07 năm Ất Mùi, Ngài xả bỏ báo thân tại phương trượng Tổ đình Từ Quang trong tiếng niệm Phật của môn đồ tứ chúng, hưởng thọ 95 tuổi, tăng lạp 74 năm.

Cuộc  đời Ngài là một tấm gương nhiệt tâm, tinh cần trong mọi Phật sự, luôn quên mình vì mọi người. Ngài thường xuyên tổ chức giới đàn tại Tổ đình Từ Quang và làm Hoà Thượng đàn đầu truyền đại giới, Bồ tát giới, Ngũ giới cho rất nhiều tăng, ni và Phật tử ở khắp các nơi. Hầu hết các đại lễ, khai móng, khánh thành hoặc pháp hội, các tự viện khắp nơi dù xa hay gần, dù lớn hay nhỏ đều được thừa ân chú nguyện của Ngài mà được thành tựu viên mãn. 
Ngoài việc in ấn kinh sách, Ngài còn bảo trợ cho rất nhiều tăng ni trẻ du học nước ngoài. 
 Đặc biệt, Ngài là chứng nhân lịch sử, hơn thế nữa, là Ngài tác nhân làm nên lịch sử Phật giáo Việt Nam thời hiện đại - với thời cuộc đầy biến thiên và thăng trầm của lịch sử. Lịch sử Phật giáo Việt Nam nói riêng và lịch sử Phật giáo thế giới nói chung.  
Chúng con kẻ hậu học, trân trọng kính ghi công hạnh của Ngài trong sự nghiệp phụng sự quê hương và Đạo pháp : 

Nước có trong ngoài, biệt Tổ ly hương, bảo vệ quốc gia, đức độ còn lưu vạn thuở
Đạo không Nam Bắc, vị tha xả kỷ, duy trì Phật pháp, công huân để lại ngàn thu.

NAM MÔ LƯU PHƯƠNG THÁP, TRÚC LÂM YÊN TỬ, VĨNH NGHIÊM, PHƯỢNG BAN PHÁP PHÁI, ĐỆ LỤC THẾ, VIỆT NAM PHẬT GIÁO THỐNG NHẤT GIÁO HỘI VIỆN HÓA ĐẠO ĐỆ NHẤT VIỆN TRƯỞNG, THẾ GIỚI VIỆT NAM PHẬT GIÁO GIÁO HỘI THƯỢNG THỦ, TỪ QUANG TỔ ĐÌNH KHAI SƠN, MA HA SA MÔN TỲ KHƯU BỒ TÁT GIỚI,  PHÁP DANH THANH MINH, PHÁP HIỆU TÂM CHÂU, TỰ TUỆ HẢI, ĐOÀN CÔNG TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG GIÁC LINH THÙY TỪ CHỨNG GIÁM./.
 
--------------------------------   
 
 
CẢM NIỆM CỦA MÔN ĐỒ PHÁP QUYẾN

Kính bạch giác linh Đức Trưởng Lão Hòa Thượng Tôn Sư,
Trời Gia Nã Đại phủ mầu tang lạnh, 
Tổ đình Từ Quang khuất bóng Tôn Sư,
Nước Cực Lạc sen khai chín phẩm,
Cõi Sa Bà an giấc ngàn thu.

Vẫn biết rằng giác tính trạm nhiên, chân như thường tại siêu việt có - không, chẳng hề sinh diệt, nhưng vì bản nguyện, Ngài đã mượn huyễn thân, vận khởi thuyền từ vớt kẻ trầm luân, nên khi đến đã tùy duyên hóa độ, thì lúc đi cũng chẳng ngại ái triền, nhưng hôm nay, qùi trước linh đài, nhìn lên di ảnh Ngài, chúng con vẫn không sao tránh khỏi nghẹn ngào ứa lệ khi hình bóng từ hòa của Ngài thôi từ nay đà khuất bóng.

Ngài đã rũ áo trần gian, trở về với bản tính vắng lặng tuyệt đối của chân tâm, sau bao nhiêu năm hiện thân làm một vị tăng sĩ đầy đủ phong thái của bậc Pháp sư đạo hạnh. Ngài ra đi, sự ra đi an nhiên tự tại miên viễn của các bậc thiền giả chân sư như biểu tượng thật thi vị, khoáng đạt, tự tại được thể hiện trong bài thi kệ nổi tiếng của Hương Hải Thiền Sư: 

Nhạn quá trường không,        
鴈 過 長 空
Ảnh trầm hàn thủy                     
影 沉 寒 水
Nhạn vô di tích chi ý                  
鴈 無 遺 跡 之 意
Thủy vô lưu ảnh chi tâm            
水 無 留 影 之 心
            
Nhạn bay lướt trên không,
Ảnh chìm trong đáy nước,
Nhạn không in dấu vết,
Nước chẳng bận lưu hình.

Đấy là đạo phong của các bậc Thiền giả Cao Tăng sau mấy mươi năm trụ thế hoằng hóa độ sinh, công hạnh hoàn mãn, các Ngài trở về với sự vắng lặng tịch diệt an nhiên của Tâm Không - Bản Giác, và hình ảnh đó cũng chính là nguồn động lực để chúng con cung soạn cúng dường mấy dòng thô thiển chân thành ngưỡng vọng một bậc Tôn Sư. 

"Nhớ Đức Trưởng Lão tâm Bồ Tát
Kính bậc Cao Tăng hạnh đại bi.”
Ngài là bậc Thiệu Long Thánh Chủng, là vị Tứ chúng Trung Tôn, là hàng đống lương Phật pháp.  Suốt hơn 75 năm dấn thân trên con đường phụng sự đạo pháp, quê hương và dân tộc, Ngài luôn luôn quan tâm đến việc đào tạo Tăng tài, xây dựng tòng lâm, thành lập GĐPT Thiện Sinh, kế vãng khai lai, duy trì chính pháp, và chưa hề một lần chùn chân lui bước trước những nghịch cảnh gian nan hay thăng trầm bi thống của vận nước nổi trôi biến thiên sinh diệt.

Nhớ đến Ngài là nhớ đến một vị Sư đức độ khiêm cung, luôn luôn lấy chữ 'Hòa' làm phương châm cuộc sống.  Nhớ đến Ngài là nhớ đến một nụ cười nhân hậu, một trái tim bao dung, một ánh mắt thân thương, một bàn tay nâng đỡ.  Nhớ đến Ngài là nhớ đến Thường Bất Khinh Bồ Tát hay Bố Đại Hòa Thượng với túi kẹo ngọt thơm mùi quế, luôn tận tay ban phát cho tất cả những ai có thắng duyên được gặp, không phân biệt thân sơ, tôn giáo hay sắc tộc.  Nhớ đến Ngài là nhớ đến những bài học Thiền Lâm Bảo Huấn, những câu kinh Trung Bộ A Hàm, những vần thơ thiền vị quê hương, những đạo từ bất khuất uy nghiêm nhưng vẫn chứa chan từ bi hỷ xả.

Quả thật đúng là: 
"Đức cảm hóa trong đạo ngoài đời, ánh minh đăng huyền linh sáng rỡ,
Tài hoằng pháp độ sinh khắp chốn, hoa ưu đàm mỉm nụ chiếu soi.”

Ngài đã hy hiến trọn đời mình cho đạo pháp, chúng sinh, quốc gia và dân tộc.  Ngay cả đến khi thị hiện căn bệnh trầm kha, dù sắc thân giả tạm đang cảm nhận từng cơn đau xé buốt như hàng ngàn mũi kim nhọn đâm thẳng vào người và trong suốt hơn hai tuần lễ chỉ có vài giọt nước thấm môi, Ngài vẫn thiết tha nhắc nhở hàng đệ tử môn đồ phải khiêm cung, nhu hòa, nhẫn nhục, thương yêu đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau, lấy Giới Luật, Uy Nghi làm áo giáp đức hạnh, lấy trực tâm thành ý khi tiếp nhân xử thế, lấy lý tưởng vô ngã vị tha làm mục tiêu phấn đấu tự thân để thẳng tiến Niết Bàn an lạc, nhưng bi tráng hơn, ánh mắt Ngài vẫn khắc khoải hướng về quê Mẹ Việt Nam thân yêu cách xa hơn nửa vòng trái đất như mong đợi được nhìn thấy lại cảnh thanh bình, ấm no hạnh phúc của toàn dân, của vạn loại chúng sinh.

Cuộc sống hạnh đức trang nghiêm của Ngài là tấm gương phản chiếu cho Ni đồ và PT hậu học chúng con. Cuộc đời hành đạo của Ngài đã nói lên hạnh nguyện lợi tha chẳng khác nào ngọn hải đăng chiếu sáng muôn dặm nơi biển khơi sinh tử. Ngài là hiện tàng tự tại đi ở khôn lường như: "Bóng nhạn liệng giữa trời xanh, đâu mong in dấu chân trên mặt hồ”.
 
Kính bạch Giác Linh Ngài,

Như Đại Lão Hòa Thượng, Viện Chủ Linh Phong Thiền Uyển đã tán thán Ngài:
"Nước có trong ngoài, biệt tổ ly hương, bảo vệ quốc gia, đức độ còn lưu vạn thuở,
Đạo không nam bắc, vị tha xả kỷ, duy trì Phật Pháp, công huân để lại ngàn thu.”

Trụ thế gần tròn thế kỷ, lạp tuế cũng đã ngoài bảy mươi, việc đáng làm Ngài đã làm, việc đáng nói Ngài đã nói, còn việc gì miên mật bất khả, thì nào đâu cần phải nói ra! 

Thế nên như "Cánh nhạn bay lướt trên không, ảnh chìm trong đáy nước, nhạn không in dấu vết, nước chẳng bận lưu hình," cảnh phù trần sắc sắc không không, Đức Trưởng Lão Hòa Thượng Ngài đã vĩnh viễn ra đi, bỏ lại các pháp hữu vi giả tạm, hàng giáo phẩm Tăng già lại mất thêm một thành viên trong đại gia đình họ Thích, tứ chúng mất đi một vị ân sư đã tận lực tận tâm trong tinh thần phụng sự Tam Bảo, môn đồ và pháp quyến mất đi một điểm tựa vững chắc trên bước đường tiến tu tịnh nghiệp. Cõi Sa Bà đã khuất bóng vì sao, miền Cực lạc thêm trang Thượng sĩ, tuy nhiên công hạnh của Ngài đã phụng hiến cho đạo pháp và chúng sinh sẽ còn sống mãi trong tâm tư những người con Phật và vạn loại hàm linh trong ý nghĩa pháp giới vô biên, viên dung vô ngại.

Ngưỡng bạch Giác Linh Ngài, 

Để tỏ lòng tôn kính và báo đáp thâm ân Ngài, chúng con thành tâm noi gương cao cả của Ngài, nguyện tích cực tuyên dương chính pháp, nỗ lực thành tựu lý tưởng giải thoát, trang nghiêm Giáo hội, giữ vững tôn chỉ thuần tuý của đạo pháp, thăng hoa trên bước đường hành đạo và hướng dẫn mọi người thẳng tiến trên lộ trình giác ngộ an vui cứu cánh, hầu báo đáp hồng ân Tam Bảo trong muôn một. Dẫu thời gian có đi qua: mười năm, năm mươi năm hay một trăm năm sau, bao thế hệ Ni sinh tiếp nối vẫn phải luôn khắc ghi rằng: "Để có được thành tựu ngày hôm nay là kết quả của bao tâm huyết, bao hy sinh của các bậc Trưởng Lão Cao Tăng Thạc Đức đã phụng hiến trọn đời vì tiền đồ Phật pháp, vì mục đích giác ngộ, vì chí nguyện lợi tha, vì lý tưởng giải thoát sinh tử luân hồi cho vạn loại chúng sinh.

Giờ đây, chúng con khấu đầu chắp tay quỳ trước linh đài, một lòng thành kính đốt nén tâm hương dâng lên cúng dường mười phương chư Phật, ngưỡng cầu Giác linh Ngài, thượng phẩm cao đăng, kính nguyện Ân Sư, Liên Trì tịch diệt, hồi nhập Sa Bà, hóa độ chúng sinh, viên thành Chính giác. 

Ngưỡng nguyện Ngài thùy từ chiếu giám, đồng thời chúng con cũng xin kính chúc chư Tôn Thiền đức pháp thể vô biên, nhị nghiêm thường chiếu, chúng sinh dị độ, Phật sự viên thành.

Nam mô Lưu Phương Tháp, Trúc Lâm Yên Tử, Vĩnh Nghiêm, Phượng Ban Pháp Phái Đệ Lục Thế, Tỳ Khưu Bồ Tát Giới, Thế Giới Việt Nam Phật Giáo, Giáo Hội Thượng Thủ, Trưởng Lão Hòa Thượng thượng Tâm hạ Châu, liên vị chi giác linh.

Đệ tử Ni chúng chúng con đê đầu chắp tay đồng bái bạch.
Thích Nữ Minh Tâm

--------------------------------   
 
 
HÀO QUANG XUẤT HIỆN SUỐT 5 NGÀY TANG LỄ HÒA THƯỢNG THÍCH TÂM CHÂU
 
Bức tượng của Hòa Thượng được an trí tại sân trước của Tổ Đình Từ Quang ở Canada nơi Hòa Thượng sáng lập và hành đạo. Nhưng phía trên bức tượng có vần sáng xanh ngọc xuất hiện suốt thời gian tang lễ 5 ngày, đêm nào cũng xuất hiện vầng sáng xanh đó. Suốt từ đầu đêm đến sáng, cho đến ngày Trà Tỳ xong thì không thấy vầng sáng đó nữa. Chính Sư Cô Đức Hòa đã chụp lại bức ảnh này, và ai ai đi dự tang lễ cũng chứng kiến được hiện tượng kỳ diệu này. Đúng là Phật pháp nhiệm mầu, Nam Mô A Di Đà Phật.