LỜI DẪN NHẬP

Nam Mô A Di Đà Phật.

Kính bạch Giác Linh Đức Trưởng Lão Hoà Thượng Thượng Thủ,

Nhân kỷ niệm Lễ Tiểu Tường của Ngài, chúng con ni chúng Chùa Đức Viên xin đăng lại một số bài cảm niệm được viết bằng những trái tim hướng về Ngài, để đại chúng đồng được chia xẻ với nhau thêm niềm tin kính hướng về bậc Trưởng Lão đã một đời vì dân vì nước.

Càng ôn lại, chúng con càng cảm niệm ân đức sâu dầy Ngài dành cho đàn hậu học. Mỗi lời nói của Đức Trưởng Lão Hòa thượng là những đạo từ thâm thúy đã in đậm trong tâm của người con Phật; mỗi bước chân đi qua của Ngài đã ghi dấu biết bao tình Đạo pháp nghĩa đồng bào; mỗi cử chỉ của Hòa thượng thể hiện sự khoan dung độ lượng, lòng từ bi chan chứa.

Trăm năm trong cõi đời đầy thị phi, nhân ngã, tranh chấp, trải qua lịch sử trong những khúc quanh ngặt nghèo nhất, Ngài là một trong những bậc Thầy vĩ đại đã lèo lái con thuyền Phật Giáo giúp dân tộc Việt Nam vẫn giữ được tín tâm với Tam Bảo. Hình ảnh giải thoát vô ngại của Ngài là ngọn đuốc soi đường cho chúng con.

Hôm nay Hòa thượng đã quy Tây, chúng con không còn được quỳ dưới chân Ngài để được nghe lời ân cần từ mẫn như ngày nào, nhưng đức hạnh của ngài vẫn còn lưu đậm dấu ấn trong tâm hồn chúng con.

Chúng con thành tâm cúi đầu kính dâng lên cúng dường Giác Linh Hòa Thượng Ân Sư những lời lẽ chân thành mộc mạc, còn nhiều khiếm khuyết vụng về, ngưỡng mong chúng con có thể bày tỏ tấm lòng tri ân báo ân và hoài niệm một bậc xuất trần thượng sĩ, bậc chân tu thực học đem ánh đạo vàng giải thoát sinh tử luân hồi cho vạn loại hàm linh.

Chúng con cúi đầu kính lễ,

TKN.Đàm Nhật cùng Ni chúng Chùa Đức Viên

 

MỤC LỤC
  1. Vang vọng nguồn thương
  2. Giã từ
  3. Cảm niệm Ân Sư
  4. Trầm tư về một cánh hạc chân mây
  5. Ngưỡng niệm Trưởng lão Hòa thượng
  6. Về lại Từ Quang
  7. Nhớ Người như nhớ vì sao Bắc đẩu
  8. Trái tim nhân ái
  9. Tấc lòng hoài niệm
  10. Nhớ Thầy
  11. Khóc biệt Ân Sư
  12. Đức Viên phúc nghiệp
  13. Phong thái Đức Viên

 

 

1. VANG VỌNG NGUỒN THƯƠNG

Từ vô thuỷ dòng thời gian xuôi chảy,

Cuốn hút theo nhân quả luật vô thường.

Tâm từ bi, vang vọng đáy nguồn thương,

Căng buồm trí lướt trên đường hoá độ.

 Nhìn nhân thế, bóng câu qua cửa sổ,

Bả lợi danh tài sắc mãi đua tranh.

Màn vô minh tham ái bủa vây thành,

Một niệm xả, hướng tâm về an lạc.

 Lũ chim biển đứng nhìn nhau ngơ ngác,

Bắc băng dương, tuyết tan, nước ngập tràn.

Đất nóng lên, khí ô nhiễm ngút ngàn,

Ngưng tham vọng phát minh nhiều cơ- khí.

 Nạn nhân mãn, nạn cơ hàn, cần chuẩn bị,

Tự chế mình và san xẻ với tha nhân.

Biết thương yêu, đùm bọc, nghĩa hợp quần,

Biết lẽ sống cùng chung sinh lực sống.

 Bao bao năm, chiến tranh gây bi thống,

Trái đất này và cả Việt Nam kia.

Có chiến tranh là có sự chia lià,

Đem "vô ngã" xoá tan tâm hiềm hận.

 Kiếp nhân sinh, ai ai cùng một bận,

Có sinh rồi, lại có tử như nhau.

Dù đạo tình, thân thích, trước hay sau,

Xin vĩnh biệt, cao thăng là tâm nguyện.

 Là tu sĩ, cuộc đời coi như huyễn,

Chí xuất trần, lục hoà kính đeo mang.

Đạo và đời, hiện ảnh tượng kinh hoàng,

Xin nhận thức, xin nghiêng vai gánh vác.

 Đời ác trược, biết đời, không tạo tác,

Cho nguồn thương tuôn chảy khắp nơi nơi.

Cho cỏ cây muôn vật được xinh tươi,

Cho cuộc sống con người thêm ý nghiã.

                                        Tu viện Viên Quang,

                                       Xuân Giáp Ngọ (2014)

                                       Trưởng Lão Thích Tâm Châu

 

 

2. GIÃ TỪ

Kính dâng Giác linh Hòa thượng Tôn Sư thượng Tâm hạ Châu

Viện Chủ Tổ Đình Từ Quang, Montreal - Canada

Từ Quang khuất bóng Tôn Sư

Ðèn Thiền mờ nhạt, bóng từ còn đâu?

Tổ đường lắng tiếng kinh cầu

Âm thanh vang vọng lòng đau mất Thầy.

Xả thân cho thế gian nầy

Ðơm bông trí tuệ mai ngày nở hoa.

Giã từ thế giới Sa Bà

Nhập thân pháp hội Long Hoa Liên Trì.

Chùa Phước Hải - Saigon (Việt Nam)

Pháp tửThích Tịnh Nguyện

Khấu đầu chắp tay kính bái biệt

 

3. CẢM NIỆM ÂN SƯ

Nam Mô A Di Đà Phật,

Kính bạch Giác linh Thầy,

Chúng con kính nghe : Cha mẹ sinh thân ngũ uẩn, Thầy Tổ tác thành giới thân tuệ mạng. Thân ngũ uẩn thì trôi lăn trong sinh tử, thân tuệ mạng thì vượt ngoài tử sinh. Ân đức ấy như trời cao biển rộng, suốt trăm ngàn kiếp không thể nào báo đáp được.

Hơn chín mươi năm trong cuộc thế, Thầy luôn tận tình tế độ, giáo dưỡng chúng con. Thầy lấy đức từ hóa độ quần mê, lấy bao dung đối nhân xử thế. Thầy lo cho chúng con khi trái nắng trở trời, dạy chúng con từng tế hạnh oai nghi. Chúng con chưa báo đáp được thâm ân giáo dưỡng mà thầy đã quẩy dép về Tây. Tuy biết cuộc đời là vô thường, nhân sinh là giả tạm nhưng chúng con không cầm được nước mắt khi tráitim nhân hậu, bao dung của Thầy ngừng đập.

Những tưởng chúng con được đón Thầy về quê xưa để sớm hôm thường định tỉnh nhưng nào ngờ đất khách thầy ra đi để đất thảm trời sầu.

Thế là Tổ đình Kim Liên chỉ còn lưu dấu tích của đồng tử khi xưa còn Thầy thì mãi mãi ra đi như dòng sông không bao giờ trở lại để tháp chín tầng nơi Quốc tự Việt Nam vẫn tháng năm ngóng trông bước chân bậc Viện trưởng.

Tổ đình vẫn còn đó nhưng hình bóng Thầy đâu rồi? Biết lấy ai dạy Bước Đầu Học Phật? Từ Quang vẫn còn đây nhưng tôn dung Thầy không còn nữa, biết hỏi ai bài Thiền Lâm Bảo Huấn? Để từ đây thiền thất sớm chiều chìm trong sương không sắc, phương bào ngày tháng lạnh theo gía sắc không.

Mớitháng trước Thầy còn nắm chặt tay con ân cần dạy bảo nhưng bây giờ Thầy đã buông nhẹ hai tay, xả bỏ tất cả, Thầy đã xả bỏ tất cả vinh nhục, thăng trầm, buồn vui, được mất trong chín mươi lăm năm của cảnh trầm luân thế nhân để trở về quê hương tịnh cảnh có gió thổi là vi diệu pháp, có chim kêu là đạo nhiệm mầu.

Trước phút giây ngàn thu vĩnh biệt này, chúng con cúi đầu kính lạy Thầy ba lạy : Lạy thứ nhất thâm tạ công ân tác thành giới thân tuệ mạng, lạy thứ hai tri ân giáo dưỡng nên người, lạy thứ ba xin vĩnh biệt Thầy . Xin Thầy từ bi chứng giám.

NAM MÔ LƯU PHƯƠNG THÁP TRÚC LÂM YÊN TỬ, VĨNH NGHIÊM, PHƯỢNG BAN PHÁP PHÁI ĐỆ LỤC THẾ, MA HA SA MÔN TỲ KHƯU BỒ TÁT GIỚI, VIỆT NAM PHẬT GIÁO THỐNG NHẤT GIÁO HỘI VIỆN HÓA ĐẠO ĐỆ NHẤT VIỆN TRƯỞNG, THẾ GIỚI VIỆT NAM PHẬT GIÁO GIÁO HỘI THƯỢNG THỦ PHÁP DANH THANH MINH, PHÁP HIỆU TÂM CHÂU, TỰ TUỆ HẢI, ĐOÀN CÔNG TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG BỔN SƯ GIÁC LINH THÙY TỪ CHỨNG GIÁM./.

Canada , 24/08/2015

Pháp tử Giác Dũng

Khấp bái

 

4.  TRẦM TƯ VỀ MỘT CÁNH HẠC CHÂN MÂY . . .

 Charlotte, một buổi chiều,

Ngưỡng bái bạch giác linh Cố Trưởng Lão Hòa Thượng Tôn Sư,

Hôm nay là ngày 16 tháng 6/2016, chỉ còn hai tháng mấy ngày nữa thôi là đến lễ giỗ kỷ niệm Tiểu Tường của Ngài. Thời gian thấm thoát thoi đưa, mới ngày nào chúng con còn chít vành khăn tang cung tiễn Ngài về cõi thường hằng . . . mà nay đã gần một năm. Một năm . . . ba trăm sáu mươi lăm ngày . . . tám ngàn bẩy trăm sáu mươi tiếng đồng hồ . . . vũ trụ bao lượt đổi thay, dòng đời vẫn trôi âm thầm lặng lẽ . . . kẻ đến, người đi . . . kiếp phù sinh luân hồi tụ tán . . . vô thường sinh tử tử sinh . . . thử hỏi đã có mấy ai nhớ lại một đoạn đời qua?

Con đang ngồi lặng lẽ, tại tịnh thất của con, trước di ảnh và đang lắng nghe lại giọng tụng kinh trầm hùng của Ngài qua bài kệ Nguyện Hương, Tán Phật, thuyết Bồ Tát giới . . . Lòng con lại dạt dào cảm xúc y như nỗi buồn ngày con trở về Tổ Đình Từ Quang (Montreal) buổi lễ chung thất của Ngài.

Ngày đó, vừa bước chân vào cổng chùa, đứng nhìn di tượng của Ngài trong cảnh u tịch buổi hoàng hôn ấy, tự nhiên nước mắt con tuôn trào không kềm nén được. Con cảm thấy nước mắt của mình như chan hòa với nước mắt của tín đồ Phật tử Canada trước sự ra đi của bậc Thầy khả kính nay không còn nữa mà lòng đau như cắt, khi biết rằng từ nay chúng con sẽ bơ vơ giữa trần thế phù du, giữa sóng đời cuồn cuộn!

Ngày Trưởng Lão Hòa Thượng viên tịch, con đã xúc động để có thể viết được lên các câu:

"Cao Tăng quải tích quy Thiên Trúc,

Phàm chúng bi thanh chấn đại thiên.”

Thực vậy, cố Trưởng Lão Hòa Thượng Ngài đã hiện thân trong cõi đời này như một vì sao sáng giữa đêm trường tối tăm: 95 năm trụ thế, hơn 75 năm cống hiến cho đời, phục vụ Đạo pháp và chúng sinh, làm trọn hạnh nguyện của một vị Bồ Tát trong các lĩnh vực Tục đế và Chân đế, như cố Đại Lão Hòa Thượng Quảng Thạc, Viện Chủ chùa An Lạc (quận 1, Saigon), đã cảm tác:

"Vạn cổ tâm cơ huyền trí nguyệt,

Thiên thu sự nghiệp tải thiền phong."

(Bát ngát rừng thiền, sự nghiệp ngàn đời, gió quyện hương đưa ngào ngạt mãi....

Mông mênh biển trí, tâm cơ muôn thuở, trăng lồng hoa nở rõ ràng thay!)

Hành trạng đạo nghiệp của Trưởng Lão Hòa Thượng Từ Quang trải dài từ Bắc vào Nam, sang Hoa Kỳ qua Gia Nã Đại, phụng sự không biết mỏi mệt vì Đạo Pháp và dân tộc trên lộ trình thừa hành Phật sự. Chín mươi lăm năm đi qua cõi đời ngũ trược, Ngài là dòng sông vượt bao ghềnh thác để về với biển giác nhiệm mầu và cũng là dòng sông mang hương sắc thanh lương cho vạn loại hữu tình được ân triêm công đức…

"Trích đoạn theo tư liệu 'Tiểu sử Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Tâm Châu' của Thượng Tọa Thích Giác Dũng, Ngài sinh trong gia đình họ Đoàn ngày 02 tháng 11 năm 1921 (Tân-Dậu), tại Ninh Bình, Bắc phần, Việt Nam,là người con trai út trong gia đình có bốn anh em trai. Do có căn lành từ nhiều đời về trước nên năm 11 tuổi Ngài xuất gia, thờ Sư Tổ Thích Thanh Kính tự Linh Quang thuộc chốn Tổ Phượng Ban (tỉnh Ninh Bình) làm thầy tế độ. Tuy tuổi còn nhỏ nhưng Ngài luôn tinh tiến tu học nên chẳng bao lâu được Bản sư cho thụ giới Sa Di tại chốn Tổ Đồng Đắc (Kim Sơn, Ninh Bình). Năm 20 tuổi, Ngài đăng đàn thụ giới Tỷ Khưu tại chùa Bát Long (Ninh Bình), thụ giới Bồ Tát nơi Sư Tổ Thích Đức Nhuận tức Đức Đệ Nhất Pháp Chủ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam sau này. Sau khi thụ giới, với chí tiến tu, Ngài du phương tham học tại các chốn Tổ danh tiếng lúc bấy giờ như chùa Đồng Đắc, chùa Phúc Chỉnh, chùa Phù Lãng, chùa Quán Sứ.

Sau khi tham bái phỏng đạo trở về, Ngài hành đạo tại chốn Tổ Đồng Đắc và Phượng Ban với các chức vụ như tri khách, duy na. Ngoài những trách vụ được giao phó tại chốn Tổ, Ngài còn đi diễn giảng, hành lễ khắp các tỉnh thuộc miền Bắc lúc bấy giờ như Ninh Bình, Nam Định, Quảng Ninh,v.v. Theo sự chỉ dạy của Thầy Tổ, Ngài nhận trụ trì chùa Phúc Điền (Kim Sơn, Ninh Bình) và đặc biệt, khai sáng chùa Quang Nghiêm tại phường Hà Tu, thành phố Hạ Long.

Là một tăng sĩ trẻ, ngoài các trách vụ được Giáo hội giao phó, Ngài luôn dấn thân tham gia tích cực các hoạt động của phong trào chấn hưng Phật giáo lúc bấy giờ nên năm 1952, Ngài được đề cử tham gia đại hội đại biểu thành lập Giáo hội Tăng già Việt Nam tại chùa Quán Sứ - Hà Nội. Tổng hội Phật giáo được thành lập, Giáo hội Tăng già được hình thành, Ngài đã đem tất cả hùng tâm tráng trí hiến dâng cho Đạo pháp, cho quê hương, những mong chấn hưng Phật giáo, quang huy dân tộc nhưng rồi thời thế đổi thay, chính sự biến loạn nên năm 1954 Ngài đành ngậm ngùi giã biệt Thầy Tổ, xa lìa quê cha, cùng hơn một trăm vị Tăng Ni khác xuôi tàu vào Nam hành đạo.

Trong những năm thập kỷ 60, Ngài nguyên là Chủ tịch Ủy ban Liên phái Bảo vệ Phật giáo, là một trong những vị có công lao trong phong trào đấu tranh của Phật giáo đòi bình đẳng tôn giáo thời chính quyền Ngô Đình Diệm tại miền Nam Việt Nam. Ngài cũng đã tạo dựng chùa Giác Minh, thành lập Giáo hội Tăng già Bắc Việt tại miền Nam và đảm trách chức vụ Viện chủ chùa Giác Minh kiêm Chủ tịch Giáo hội Tăng già Bắc Việt; khai sơn và đồng khai sơn nhiều ngôi chùa tại Việt Nam từ Đà Nẵng trở vào Sàigòn. Các cảnh chùa này, đa phần tên đầu là chữ "Từ", như Từ Ân (Nha Trang), Từ Hưng (Ban Mê Thuột), Từ Thắng (Vũng Tàu), Từ Khánh (quận Tư, Saigon), Từ Tân (quận Tân Bình), Từ Thọ (Phú Thọ), Từ Định (Tân Định), Từ Minh (Phan đình Phùng, Saigon), Từ Quang (Phan Thanh Giản, Saigon), Từ Long (Thủ Đức, bây giờ đổi thành chùa Thiên Minh), Từ Quang (Vũng Tàu), chùa Quán Âm (Phú Nhuận), v.v.

Đặc biệt, năm 1964, Ngài đã khai sáng ngôi Việt Nam Quốc Tự, tọa lạc trên đường Trần Quốc Toản (Sàigòn), nay là đường 3 tháng 2, quận 10, Sàigòn. Lúc bấy giờ, ngôi chùa trực thuộc hệ phái Bắc tông, tập họp chủ yếu Tăng Ni, Phật tử miền Bắc. Đây cũng là cơ sở Viện Đại học Phương Nam do GHPGVN thành lập và Cô nhi viện Quách Thị Trang nuôi trẻ mồ côi trước đây. Ngoài ra, Ngài cũng là Sáng lập viên kiêm Phó Chủ Tịch Giáo Hội Phật Giáo Tăng Già Thế Giới tại Sri-Lanka,Chủ Tịch Hội Phật Giáo Phụng Sự Xã Hội Thế Giới, Chủ Tịch Hội Phật Giáo Liên Hiệp Thế Giới tại Hán Thành (Nam Hàn).

Từ năm 1975, Ngài sang hành đạo tại Pháp, tạo dựng chùa Từ Quang tại Nice, thành lập Hội Phật-Giáo Thế-Giới Phụng-Sự Xã-Hội tại Pháp, Lãnh Đạo Tinh Thần Hội Phật Giáo Pháp Việt chùa Hồng Hiên (Fréjus - France), xây dựng Tổ đình Từ Quang tại Canada, Tu viện Viên Quang tại Hoa Kỳ, và cũng từ đó trở đi, Ngài thường có mặt tại Canada và Hoa Kỳ, hướng dẫn tinh thần cho các Phật tử Việt Nam xa quê, khuyến khích xây dựng Phật đường và tu học Phật pháp."

Bản tiểu sử trên đã cô kết cuộc đời hoằng hóa của cố Trưởng Lão Hòa Thượng. Với ngôn ngữ và bút mực trần gian giả tạm này, làm sao có thể viết hết công đức và hành trạng đạo nghiệp của Ngài; riêng con, con chỉ xin ghi lại một vài dấu ấn đã khắc sâu vào lòng con về Ngài:

1.Về lĩnh vực tự thân hành trì:Đến giờ, nếu có hỏi ngay chư vị đệ tử của Ngài, có lẽ cũng chưa có một ai dám nói chắc về pháp môn tu tập của Ngài; tuy nhiên, theo con nhận xét, Ngài nghiêng về pháp môn Tịnh độ hơn, vì có nhiều buổi tối, con đã trông thấy Ngài một mình lần chuỗi tràng trong thư phòng. Những lúc đó, nhìn Ngài như được bao phủ bởi một vầng thần khí định lực. Nét mặt thư thái, an nhiên, đôi mắt khép hờ, bàn tay khẽ chuyển động lần qua những hạt châu niệm Phật. Con cũng nghe Ngài thường nhắc nhở qúi Sư Cô và Phật tử phải siêng lễ Phật, niệm Phật, nhất là phải niệm sáu chữ hồng danh Phật A Di Đà, không được niệm bốn chữ, trừ phi quá đau yếu. Sự hành trì này được thể hiện qua nhiều bài thơ, câu đối của Ngài:

Nay ở nơi đây mặc vọng cầu,

Thời-quang thấm thoát,mai về đâu?

Thiện lên, ác xuống quanh ba cõi,

Một niệm Di-Đà vượt trước sau.

Duyên bởi thanh âm, ngộ đạo mầu,

Tùy cơ, phương tiện, dẫn người sau.

Tâm trong, sự vật hòa trong lặng,

Cực-Lạc, Di-Đà, tín, nguyện sâu!

Chùa Khuông-Việt, Na-Uy, 2003

 

Dọc ngang góc biển, chân trời,

Vô sinh trổi khúc an vui chân thường.

Quán Âm thị hiện muôn phương,

Di Đà sáu chữ đạo thường siêu linh.

Montreal, xuân Giáp Thân (2004)

2. Về lĩnh vực hiển thị: Để khế cơ độ chúng, Ngài luôn tùy hỷ, không hề ép buộc một ai phải theo pháp môn này, tu pháp môn nọ . . . mà Ngài chỉ giảng giải lợi ích thiết thực của sự chuyên tâm hành trì của từng pháp môn phù hợp căn cơ của vị hành giả đó để gặt hái được kết quả. Khi cần phải dịch kinh, Ngài thức thâu đêm để phiên dịch; khi chủ trì khóa lễ, Ngài cũng tùy duyêntụng kinh cùng đại chúng, và không bao giờ bỏ ngang hay vắng mặt trong suốt khóa lễ, dù ngắn hay dài; có những khóa đại lễ hay đại giới đàn kéo dài ba, bốn tiếng đồng hồ, nhưng Ngài vẫn an nhiên chủ trì từ đầu cho đến kết thúc. Hạnh tùy hỷ đó của Ngài có phải chăng là thực hành theo đại nguyện của Đức Phổ Hiền Bồ Tát: 'Ngũ giả tùy hỷ công đức?'

 3. Về thái độ, nhân cách:Dù là bậc trưởng thượng tiền bối, Ngài luôn từ hòa, khiêm cung, bình dị, thân thiện khiến ai ai khi được diện kiến Ngài lần đầu, đều cảm thấy lòng từ bi nhân ái của Ngài lan tỏa thật ấm áp như được che chở, bảo bọc; tuy thế mọi người, từ đệ tử xuất gia đến tại gia, vẫn cung kính khép nép trước phong thái uy nghiêm, thẳng thắn của Ngài. Bất cứ đệ tử nào đến thăm hỏi, vấn an, lời đầu tiên của Ngài đều khuyên người ta hướng về Tam Bảo:"Lên lễ Phật đi, cầu xin Tam Bảo gia hộ ."

 4. Một tâm hồn nghệ sĩ, yêu nước:Nếu ai chưa từng vịnh thi văn của Ngài, sẽ không thể nào hình dung được tiềm tàng chất liệu thi ca lãng mạn, giao cảm với tinh hoa đạo giáo, với vẻ đẹp thiên nhiên và yêu quê hương nồng nàn trong con người của Ngài Trưởng Lão:

Bóng Thời Gian

Nắng vàng tắm rợp biển xanh,

Bâng khuâng vạn vật nhuộm hình hoàng hôn.

Buồm ngư thoáng bóng dập dờn,

Phấtphơ vân cẩu bon bon thiên trường.

Gió lay ngọn cỏ du dương,

Không gian kỳ ảo sắc vương giáng chiều.

Giấc xuân thiếp ánh trăng treo,

Mơ màng sực tỉnh vắt veo nắng hồng.

Vũng Tàu: 12-11-1967

Ngẫu Cảm

Trước song mưa đổ hoa rơi,

Non sông hun hút một trời mù che.

Rưng rưng mi liễu dầm-dề,

Quốc ca văng vẳng mộng về cố hương.

Singapore: 1-1-1968

 

5. Chủ trương hòa bình: Cuộc đời Ngài trưởng thành trong những giai đoạn gay cấn nhất của lịch sử dân tộc, các xu hướng chính trị mâu thuẫn, các chế độ chống đối tương tàn . . . làm cho đời sống dân lành khổ đau điêu đứng. Ngài đã chứng kiến nhiều cảnh thương tâm, nên ý thức về hòa bình an lạc luôn luôn là nhân tố, Ngài muốn xây dựng hạnh phúc cho nhân sinh;vì thế, chủ trương rõ rệt nhất cuộc đời Ngài là chữ Hòa trong tinh thần tương ái, hòa hợp, bình đẳng qua những bài đạo từ, thi văn, và ngay trong cuộc sống hiện thực cũng như phương cách giáo huấn môn đồ, đệ tử hoặc trong những lần tham dự các Đại hội Phật giáo Quốc tế, Ngài đều bàn thảo và kêu gọi hòa bình, an lạc cho hạnh phúc tha nhân.

Kính bạch Giác Linh Ngài,

Như Thượng Tọa Thích Nhật Tân (Mặc Giang) đã tán thán Ngài:

'Cuộc đời Ngài đâu cần ghi để nhớ

Hành trạng Ngài đâu cần khắc để lưu,

Một ngôi sao gắn trên cánh Vô Ưu

Vốn miên viễn mọi không, thời rạng chiếu.'

Quả thật vậy, thế hệ Tăng Ni, Phật tử hôm nay và mai sau là những người thừa hưởng tuệ nghiệp vô giá mà Đức Trưởng Lão Hòa Thượng đã thể hiện bằng sự sống, bằng hành động, bằng ngôn từ và bằng ý chí kiên định, khắc thêm vào trang Phật sử nghìn năm dấu ấn những bậc chân tu thực học đem ánh đạo vàng giải thoát sinh tử luân hồi cho vạn loại hàm linh. Nhưng rồi . . .

Duyên trần đến hồi phải mãn,

Tụ tán quy luật thường tình.

Ao thất bảo trang nghiêm kết bạn,

Nước Liên Trì có dáng ân sư.

Chín mươi lăm năm trụ thế, thuận lẽ tử sinh, ngày 20 tháng 8 năm 2015, sau hai tuần thị hiện thân bệnh, Trưởng Lão Hòa Thượng Từ Quang đã an tường thâu thần tịch diệt, trả tấm thân ngũ uẩn về cho tứ đại phù du, để lại bao nỗi kính thương cho môn đồ pháp quyến. Cánh hạc đã nhẹ nhàng thanh thản về nẻo xa mờ trong cõi ngút ngàn của bản thể không tâm, một cánh sao trời đã khuất dạng, một năm, rồi hai năm, ba năm . . . mười, hai mươi năm sau nữa . . . vun vút băng qua trên bao lượt đổi thay dòng nhân sinh thế sự, hình bóng Ngài rồi cũng sẽ thôi không còn nữa với thời gian, nhưng công hạnh của Ngài mãi mãi vẫn còn lưu dấu "Đàm hoa lạc khứ hữu dư hương".

Xin thay mặt Ni chúng và Phật tử tại Washington D.C., North Carolina, Montreal, chúng con đê đầu chắp tay cung tiễn Ngài tiêu dao tự tại:

'Thùy nguyệnđộ sinh,đại nguyện viên thành, Thầy qui tịnh vực.

Viên chương quyền thật, vô sinh tốc chứng, Sư ngự kimđài.'

Nam mô Lưu Phương Tháp, Trúc Lâm Yên Tử, Vĩnh Nghiêm, Phượng Ban Pháp Phái Đệ Lục Thế, Tỳ Khưu Bồ Tát Giới, Thế Giới Việt Nam Phật Giáo, Giáo Hội Thượng Thủ, Trưởng Lão Hòa Thượng thượng Tâm hạ Châu, liên vị chi giác linh thùy từ chứng giám.

Nam mô A Di Đà Phật.

 

 

5. NGƯỠNG NIỆM TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG

VIỆN CHỦ TỔ ĐÌNH TỪ QUANG - MONTREAL - CANADA

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật,

Nam mô A Di Đà Phật,

Kính bạch Giác Linh Đức Trưởng Lão Hòa Thượng,

Hôm nay Chủ Nhật ngày 13 tháng 9 năm 2015, tức ngày 1 tháng 8 Ất Mùi, chúng con Ni chúng và Phật tử chùa Đức Viên, thành phố San Jose, tiểu bang Cali, quỳ trước di ảnh Ngài, thành kính dâng nén tâm hương, nguyện cầu Giác Linh Đức Trưởng Lão Hòa Thượng "Sa Bà báo mãn, Cực Lạc hoa khai, sinh tử băng tiêu, chân thân tự tại."

Kính bạch Ngài,

Chúng con hồi tưởng lại mười lăm năm qua, kể từ ngày Sư Bà Đức Viên chúng con viên tịch, cũng là mười lăm lần chúng con đã được cung đón Ngài từ Tổ Đình Từ Quang - Montreal - Canada quang lâm về chùa Đức Viên chứng minh lễ huý nhật của Sư Bà chúng con. Dẫu cho niên cao lạp trưởng, đường bay giữa hai nước cũng xa, Phật sự lại quá nhiều, thế mà không một lần nào Ngài từ chối lời thỉnh cầu của hàng đệ tử chúng con; nhưng vào tháng 3/2015, vì tình trạng sức khỏe không cho phép và Ngài cũng không thể gắng gượng thêm được nữa, Ngài đã phải hủy vé máy bay vào giờ chót, gọi điện thoại báo cho chúng con biết Ngài không thể đến chùa Đức Viên chứng minh lễ húy nhật lần thứ 16 của Sư Bà chúng con được. Nhận được tin ấy, trái tim chúng con bỗng nhiên se thắt lại và lòng chúng con trĩu nặng buồn lo!

Từ đó, chúng con luôn nơm nớp hồi hộp . . . không biết Ngài sẽ còn trụ thế được bao lâu nữa . . . tuy nhiên chúng con lại khấp khởi vui mừng khi nghe các vị thị giả cho biết Ngài đã khỏe trở lại và vẫn tiếp tục đảm trách bao công tác Phật sự của Giáo Hội, Tổ Đình Từ Quang, Viên Quang và các nơi khác . . . nhưng than ôi, niềm hy vọng mong manh đó đã tắt ngúm đi khi chúng con nhận được tin Ngài phải về lại Canada gấp vì sức khỏe Ngài sụp đổ nhanh chóng sau khi tổ chức khóa Nghiên Tu An Cư đầu tiên cho Ni chúng miền Đông Bắc Hoa Kỳ và mọi tiểu bang khác tại Tu viện Viên Quang - South Carolina vào trung tuần tháng 7/2015.

Sau nhiều lần điện thoại qua Tổ Đình, chúng con mới được hầu thăm Ngài chỉ trong vài phút, và chúng con không thể cầm được nước mắt khi nghe giọng nói của Ngài nhiều mệt mỏi. Cảm thấy chúng con quá bức xúc về tình trạng sức khỏe của Ngài, Ngài đã ôn tồn và an định tâm chúng con: "Không sao đâu con, Thầy chỉ mệt một chút thôi, các con biết lo tu tập, chị em sách tấn nhau là quý lắm, đợi ra Hạ rồi Thầy xem.”

Nhưng rồi ngày mãn Hạ với hình bóng uy nghiêm trong tấm y vàng và nụ cười đôn hậu thuở nào của đức Trưởng Lão Hòa Thượng giờ chỉ còn là trong mơ! Ngày buồn 20 tháng 8 năm 2015, chị em chúng con và tín đồ Phật tử đã phải chít vành khăn tang, ngậm ngùi cung tiễn đưa Ngài về cõi Phật.

Từ Quang nay đã vắng bóng Thầy,

Lấy ai dạy dỗ chúng con đây?

Đức Viên Ni chúng hồn ngơ ngẩn

Pháp phái môn nhân dạ xót đau!

Kính bạch Giác Linh Ngài,

Dẫu chúng con vốn cũng đã được chư Tôn Đức và Sư Bà nghiệp sư chúng con giáo huấn nên ý thức được chân lý:

"Đời giả tạm, kiếp phù sinh trầm luân tụ tán

Thân huyễn hóa, cảnh vô thường tỉnh mộng tử sinh.”

nhưng làm sao hơn được, với tâm địa phàm phu hạ liệt như chúng con đây, sự ra đi miên viễn của đức Trưởng Lão Hòa Thượng - một bậc Cao Tăng đức độ, một bậc Thầy mô phạm, một tấm gương đạo hạnh - đã khiến chúng con và tất cả Phật tử, giới tử, môn đồ đều bàng hoàng, xúc động, tiếc thương.

Chúng con hồi tưởng lại quãng thời gian khi Sư Bà Đức Viên chúng con mới viên tịch, Ngài và chư Tôn Đức rất lo lắng cho sự tu tập của Ni chúng, e ngại rằng sức tu yếu kém của chúng con không thể chu toàn được việc Tam Bảo, cũng như khó lòng tiếp tục nổi dự án kiến tạo tùng lâm và tâm nguyện độ sinh của Sư Bà chúng con đang còn dang dở, nên trong suốt 15 năm trường, Ngài luôn gọi điện thoại động viên, khuyến khích chúng con, và mỗi khi có nhân duyên sang Hoa Kỳ hoằng hóa Phật sự, Ngài đều ghé lại thăm chùa Đức Viên để giáo hóa, dặn dò, dạy bảo, và kêu gọi hàng cư sĩ phát tâm ngoại hộ với những lời chân thành tha thiết đầy ưu tư của Ngài mà ai ai cũng ghi nhớ là: "Các Phật tử cố gắng ủng hộ, giúp đỡ qúi Sư Cô, đừng để nhà băng kéo Chùa, uổng phí tâm huyết của Cố Sư Bà …" nhờ ân đức của qúi Ngài và sự phát tâm hằng công hằng sản của tín đồ Phật tử mà chúng con mới có được một đạo tràng tiện nghi, tươm tất và yên ổn tu học cho đến ngày hôm nay.

Chúng con lại nhớ mỗi lần Ngài về chùa Đức Viên là mỗi lần Ngài đều đăng đàn truyền Tam Quy Ngũ Giới và Bồ Tát giới cho Phật tử khắp mọi nơi qui tụ về vì ngưỡng mộ đức độ của Ngài.Chị em chúng con ai nấy đều cúi đầu kính lễ trước trí tuệ siêu việt của Ngài vì Ngài thuộc nằm lòng hết các nghi thức truyền giới, nhất là giới đàn Bồ Tát giới; trong khi chúng con cầm bổn, mở từng trang Kinh Luật, vẫn theo Ngài không kịp. Giọng nói trầm hùng nhưng ẩn chứa lòng từ bi vô lượng của Ngài và hình ảnh các giới tử hân hoan vui mừng khi được Ngài truyền trao giới pháp và chứng điệp vẫn còn đậm dấu ấn nơi tâm khảm chúng con . . . nhưng bây giờ, những hình ảnh thiêng liêng trang trọng của những buổi giới đàn đó sẽ khó lòng tìm lại được ở Đức Viên. Biết tìm đâu một bậc Luật Sư trác tuyệt, biết tìm đâu một vị Thầy tâm linh đức độ, từ bi để hướng dẫn chúng sinh thoát khỏi đường mê cõi hồng trần giả tạm đời Mạt pháp này?

Thế là từ nay:

Biết cậy ai ngày khuyên đêm nhắc,

Biết nương ai sớm dắt tối dìu,

Biết hỏi ai khai mở nguồn tâm,

Biết nhờ ai nuôi giới thân tuệ mệnh?

Kính bạch Giác Linh Ngài,

Đạo tràng Đức Viên, theo hạnh nguyện của Sư Bà Nghiệp Sư chúng con từ lúc còn sinh tiền, có khuynh hướng chuyên tu theo pháp môn Tịnh độ; vì thế độ khoảng năm, sáu năm trước, khi chúng con được thiện duyên qua hầu thăm Ngài tại Tổ đình Từ Quang, được chiêm bái Chính điện, nhà Tổ, Trai đường, Tịnh Liên Am . . . chúng con đã để ý đến nhiều câu đối mà Ngài đã cảm tác thật vô cùng siêu việt, khoáng đạt, tự tại của một bậc Thiền sư chứng đạo nhưng lại toát lên chí nguyện cầu sinh Tịnh độ như:

"Niệm Phật Pháp Tăng Tinh Thực Căn Trần Xa Nhiễm Trước,

Hành Bi Hỷ Xả Gieo Duyên Đạo Quả Được An Vui.

hay:

"Tịnh Cnh Tiêu Dao Thân Tịnh Nghiệp,

Liên Đài Thác Hóa Chất Liên Hương.”

và:

"Một dạ tinh thành niệm niệm không quên miền Cực Lạc,

Sáu thời miên mật tâm tâm hằng tưởng chốn Liên trì.

Chúng con cũng nhớ lại có lần chị em chúng con tụ hội nhau tu học 'Thiền Lâm Bảo Huấn', tinh hoa lời dạy của các bậc Tôn Túc, do Ngài soạn dịch, thì sư cô Minh Tâm kể lại chính sư cô đã đích thân nghe Trưởng Lão Hòa Thượng dạy sư cô rằng: "Thật ra các bài vị của chư Tôn Thiền Đức nên dùng chữ "Liên vị' thì chính xác hơn là 'Long vị' như chúng ta thường thấy. Vì theo truyền thống văn hóa tư tưởng người Trung Hoa dưới chế độ quân chủ phong kiến ngày xưa, vua chúa là con của Trời (Thiên tử) nên những vật linh thiêng như rồng thì chỉ có nhà vua mới có đặc quyền trưng dụng, vì thế áo vua gọi là long bào, xe vua đi là long xa, ghế vua ngồi là long ỷ, ngay cả râu của vua mà cũng gọi là long tu . . . và bài vị của vua là long vị. Tuy nhiên chúng ta là con của Phật, đấng Pháp Vương chí tôn, bậc Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác; chúng ta phải theo Phật, hành trì lời Phật dạy . . . và khi thác hóa, về Tịnh độ liên hoa hóa sinh, thì ai lại sử dụng chữ 'long vị' bao giờ mà nên viết là 'Liên vị' thì chuẩn xác hơn. Thầy (danh xưng Ngài thường dùng với mọi người) đã viết sẵn liên vị cho chính Thầy đấy, cũng chọn tên cho tháp của Thầy, để khỏi phải phiền đến chư Tôn phải nhọc lòng, con ạ."

Sư cô còn kể thêm rằng, bản tính của Ngài rất độc lập, kiên cường, ngay cả khi Ngài đau yếu và tuổi tác đã hơn chín mươi, mỗi khi Ngài đi xa vì Phật sự, Ngài vẫn thường tự tay lo liệu đồ đạc cá nhân, thuốc men, v.v. cũng như chính tay Ngài run run gõ lóc cóc trên phím đánh máy từng chữ một những bản Kinh sách, thi phú mà Ngài trước tác hay dịch thuật. Có lần sư cô thưa hỏi Ngài tại sao Ngài không bảo các vị thị giả đánh máy để Ngài bớt đau tay thì Ngài ôn tồn cười nhẹ, trả lời: "Thôi, Thầy tự đánh máy lấy, nếu có sai hay chỉnh sửa gì thì cũng sửa luôn, các vị còn nhiều việc khác phải làm. Thầy già rồi, có việc làm này cũng vui vì thấy mình còn hữu ích cho người."

Nhắc đến đây, chúng con lại ngậm ngùi tấc dạ, lệ ứa thành hàng khi chúng con luôn miệng khẩn khoản Ngài từ bi thương xót hàng hậu học mê muội chúng con, bớt chút thì giờ qúi báu của Ngài, soạn dịch Kinh Ngũ Bách Danh sang Việt văn để chúng con thấu hiểu rõ hơn hạnh nguyện độ sinh của Bồ Tát Quán Thế Âm, bởi vì bản Kinh này toàn là Hán ngữ nên chúng con hiểu lơ mơ lõm bõm quá.Do đó, mặc dù bận Phật sự nhiều nơi và đang chuẩn bị họp đại hội của Giáo hội, nhất là sức khỏe của Ngài đã phát khởi triệu chứng 'báo động trầm trọng' rồi, Ngài vẫn hoan hỷ dành thời gian phiên dịch cho chúng con hiểu nghĩa từng chữ từng câu về hạnh nguyện cao vời của đức Bồ Tát Quán Thế Âm.

Bản Kinh Ngũ Bách Danh Việt ngữ này của Ngài (có thể nói) là quyển kinh cuối cùng trong hàng trăm trước tác, dịch thuật, thi phú, đạo từ, v.v. mà Trưởng Lão Hòa Thượng đã để lại cho hậu thế; và cũng là bộ kinh qúi giá mà Ni chúng cùng tín đồ chùa Đức Viên hành trì, bái sám mỗi kỳ lễ vía Quán Âm, trước là phụng cúng dường lên Tam Bảo, sau là tỏ lòng tri ân báo ân lên bậc Tôn Sư Trưởng Thượng.

Chúng con đời này kiếp này thật khó thể gặp được một vị minh sư đạo cao, đức trọng, có tác phong phạm hạnh của các bậc Tổ đức ngày xưa như Ngài. Cả cuộc đời của Ngài ngập tràn kinh sách, tu hành và giáo hóa. Trên tay Ngài không lúc nào là không cósách, tuy tuổi đã già, sức đã yếu mà Ngài vẫn tinh cần trong sự nghiệp phiên dịch Kinh, Luật, Luận.

Nói đến đây, chúng con lại nhớ đến những câu trong văn bia truy thán Đại Lão Hòa Thượng thượng Trí hạ Thủ:

"Xuất thế tinh chuyên đã vậy, nào quên nhập thế độ sinh, dẫu tuổi già chẳng ngại dấn thân, hạnh Phổ Hiền lợi đời lợi đạo, biết thế sự lắm phen khe khắt, tâm hồn luôn hoan hỷ bao dung.”

Chỉ bấy nhiêu chữ thật đơn giản đó đã diễn bày hết tấm lòng vì Đạo, vì hạnh phúc an lạc của chúng sinh mà chư Tôn Thiền Đức đã hy hiến trọn đời, nêu gương sáng đạo đức xuất gia để lại cho hậu thế kim cổ soi chung.

Đức Trưởng Lão Hòa Thượng cũng vậy, Ngài đã oằn đôi vai gầy gánh vác Phật sự khắp nơi, từ các buổi đại lễ Phật giáo, các buổi họp thường niên hay đột xuất của Giáo hội đến lễ khánh thành, an vị, giới đàn ... của các chùa, tự viện mọi nơi xa gần thỉnh mời; nếu đủ thiện duyên, Ngài đều hoan hỷ tham dự và ban đạo từ sách tấn. Ngay cả tình cờ nghe thấy có một vị thầy hoặc sư cô nào mới mua đất lập chùa, không kể lớn hay nhỏ, gần hoặc xa, bất luận thuộc tông phái nào; nếu có thể viếng thăm được, Ngài cũng đều thân hành đến tận nơi khích lệ, khuyến tu và hành đạo lợi ích chúng sinh. Ngài cũng luôn hiện diện chứng minh hầu hết tang lễ của chư Tôn Đại Lão Hòa Thượng cùng thời với Ngài, để rồi lại phải gánh vác bảo ban, hướng dẫn các chúng đệ tử xuất gia, tại gia của bản tự chu toàn mọi việc thập phần viên mãn, có khi Ngài lại còn phải đích thân xử lý luôn nếu có những tranh chấp xảy ra sau khi vị Trụ Trì chùa đó viên tịch.

Thật là:

"Biển rộng sáng ngời tâm Sứ giả,

Non cao vượt thoát chí trượng phu.

Tĩnh tọa trong dòng đời khổ bệnh,

Mây trắng thong dong cõi hư phù.”

Nhưng có thể nói sâu thẳm tận cùng nỗi lòng của Trưởng Lão Hòa Thượng, những ai gần gũi với Ngài nhiều nhất đều có thể nhìn ra được niềm đau thương nhớ quê hương mà đã hơn năm mươi năm qua, Ngài chưa hề một lần được trở về đặt chân trên mảnh đất chôn nhau cắt rốn, chưa một lần được nhìn lại con đường làng chốn Tổ Phượng Ban, Phúc Điền, chưa một lần được đứng chờ một chuyến xe buýt trạm Chợ Lớn - Bến Thành . . . như ngày xưa Ngài đã đi qua . . . Ngài nhớ quê Mẹ Việt Nam, nhớ da diết khắc khoải như con thơ xa mẹ, như cánh nhạn đơn côi lạc bầy, như tiếng còi tàu lạc lõng mất hút vào đêm đen tĩnh mịch . . . và nỗi nhớ, niềm đau đó được cô đọng trong tập thơ "Tỉnh Mộng Đời” của Ngài khi một thân đơn lẻ sống nơi xứ lạ quê người:

"Mỗi độ thu về lá rụng rơi,

Mỗi lần mưa đổ mịt chân trời,

Mỗi đêm thanh vắng, Giao Thừa đến,

Là lúc hồn quê vật rã rời . . .

Vẫn biết vô thường khó tránh ai,

Lòng thương dân, nước chẳng mờ phai.

Đạo Vàng ân đức mong đền đáp,

Một tấm thân côi, một bản hoài."

(trích đoạn bài thơ TỪ QUANG TỰ SỰ - Nice 2002)

Nỗi niềm thương nhớ quê hương của Ngài được chuyển hiện qua cây cảnh trong vườn chùa Từ Quang: nào hoa sói, hoa nhài, hoa đỗ quyên, hoa cúc, hoa huệ, lá mơ ... những loại bông hoa mang đậm sắc hương tình tự quê hương dân tộc; nhất là cây hoa sói được Ngài chăm chút nâng niu tưới tẩm bằng cả tâm hồn.Có lẽ chỉ có người miền Bắc mới thẩm thấu được hết hương hoa sói cũng như hương thơm mộc mạc của cây nhang Bài mà chỉ có chùa miền Bắc mới có. Nhưng có thể nói, thấu hiểu và thông cảm triệt để tâm tư Ngài, chính là chư Tôn Thiền Đức đã từng trải qua bao gian nguy, khốn khó, thăng trầm, nổi trôi của vận nước, đạo pháp và dân tộc như Ngài mới có đủ kinh nghiệm thực chứng để diễn tả biểu lộ được hết niềm bi thương hoài vọng cố hương và hoài bão chí khí của những trang thượng sĩ như Ngài.

Đúng vậy, hai câu đối tán thán Ngàicủa Đại Lão Hòa Thượng thượng Chí hạ Tịnh, Viện Chủ Linh Phong Thiền Uyển (Vũng Tàu- VN) đã khiến cho tất cả những ai đến hầu tang lễ Ngài đều bùi ngùi, khóc nghẹn:

"Nước có trong ngoài, biệt tổ ly hương, bảo vệ quốc gia,

đức độ còn lưu vạn thuở,

Đạo không nam bắc, vị tha xả kỷ, duy trì Phật Pháp,

công huân để lại ngàn thu.”

Ôi, thật đau đớn chua xót thay bốn chữ 'Biệt Tổ Ly Hương'! Bốn chữ đó đã biểu hiện được hết tâm sự trùng trùng u ẩn của một người lữ khách tha phương viễn xứ, bước chân đi mà vẫn ngoái đầu quay nhìn về cố hương, có giống chăng như tâm tình nữ sĩ Huyện Thanh Quan: "Nhớ Nước đau lòng con quốc quốc; Thương Nhà mỏi miệng cái gia gia."

Rồi trên bước đường thang mây đó, người lữ khách cũng đà thấm mệt và phải dừng chân. Chín mươi lăm năm trụ thế, hơn bẩy mươi lăm năm hành đạo, đức Trưởng Lão Hòa Thượng đã cống hiến trọn đời mình cho đạo pháp và dân tộc cho đến tận hơi thở cuối cùng, việc cần làm đã làm xong, gánh nặng đã đặt xuống.

Mười giờ sáng ngày 20 tháng 8 năm 2015, Ngài nhẹ nhàng xả bỏ báo thân, thâu thần tịch diệt, để lại bao kính thương, tiếc nhớ cho môn đồ pháp quyến, và chốn Tổ Từ Quang giờ chỉ là một khối bê tông cốt thép, một cái xác không hồn. Thật vậy, Ngài đã thắp sáng Tổ đình Từ Quang bằng chân đức của mình, tạo cho Từ Quang có chiều sâu của tâm linh, chiều cao của Phật chất. Không phải ngôi Tổ đình Từ Quang hay Tu viện Viên Quang uy thế, to lớn làm nên tên tuổi của Ngài mà chính cao phong, đạo hạnh của Ngài đã bao trùm lên ngôi Phạm vũ, làm cho thạc đức lưu phương.

Hạnh nguyện trăng tròn nợ trả xong

Mỉm cười, Bát Nhã cánh buồm dong,

Bắc Nam đại chúng dâng nhang nguyện

Thượng phẩm sen vàng ngát toả hương.

Kính bạch Giác Linh Ngài,

Sắc tướng huyễn thân của Ngài dù đã biến thiên sinh diệt theo qui luật vô thường, nhưng công đức và đạo nghiệp của Ngài đối với đạo pháp và dân tộc sẽ sống mãi trong tâm tư trong ký ức của Tăng Ni Phật tử Phật giáo Việt Nam. Ngài đã làm tốt đạo, đẹp đời giữa lòng nhân thế, mãi mãi ngời sáng với thời gian vô cùng, không gian vô tận.

Cao tăng quải tích quy Thiên Trúc

Phàm chúng bi thanh chấnđại thiên.

Kính nguyện đức Trưởng Lão Hòa Thượng vì thương xót hàng đệ tử hậu học mông muội mà:

Tế độ vô phương, lân y thể nhất,

Tân lương võng trắc, mẫn bỉ mê thâm.

(Tế độ khôn ngằn, xót chúng sanh vốn cùng một thể,

Bến bờ nào thấu, thương hữu tình mê muội sâu xa)

Tổ Sư Ấn Quang

Cúi xin Ngài hưng khởi đại bi, thừa nguyện tái lai, hồi nhập Sa Bà, chúng sinh hóa độ.

Nam mô Lưu Phương Tháp, Trúc Lâm Yên Tử, Vĩnh Nghiêm, Phượng Ban Pháp phái đệ lục thế, Tỳ khưu Bồ Tát giới, Thế Giới Việt Nam Phật Giáo Giáo Hội Thượng Thủ, pháp danh Thanh Minh, tự thượng Tâm hạ Châu, hiệu Tuệ Hải Đoàn Công Trưởng Lão Hòa Thượng Liên vị chi giác linh thiền tọa hạ.

Môn đồ pháp phái Ni chúng Đức Viên chúng con khấu đầu chắp tay khấp bái.

 

6. VỀ LẠI TỪ QUANG

 Mây toả Từ Quang, Tổ đình buồn,

Tôn Sư khuất bóng, bóng chiều buông,

Sương bao phủ, đâu hình bóng cũ,

Tuyết lệ mờ khóc, mảnh trăng suông!

Đồ chúng bơ bơ, đàn nhạn lạc,

Phật thừa, thất Pháp gió mưa tuôn,

Hoại, thành, không trụ... Nào ai biết!

Mây toả Từ Quang, Tổ đình buồn...

BS Nguyễn Thành Long khấp bái

 

 

 7. NHỚ NGƯỜI NHƯ NHỚ VÌ SAO BẮC ĐẨU . . .

Nam mô Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật,

Nam mô A Di Đà Phật,

Kính bạch giác linh Đức Trưởng Lão Hòa Thượng Ân Sư,

Trời Gia Nã Đại phủ mầu tang lạnh,

Tổ đình Từ Quang khuất bóng Ân Sư,

Nước Cực Lạc sen khai chín phẩm,

Cõi Sa Bà an giấc ngàn thu.

Vẫn biết rằng giác tính trạm nhiên, chân như thường tại siêu việt có - không, chẳng hề sinh diệt, nhưng vì bản nguyện, Ngài đã mượn huyễn thân, vận khởi thuyền từ vớt kẻ trầm luân, nên khi đến đã tùy duyên hóa độ, thì lúc đi cũng chẳng ngại ái triền, nhưng hôm nay, qùi trước linh đài, nhìn lên di ảnh Ngài, chúng con vẫn không sao tránh khỏi nghẹn ngào ứa lệ khi hình bóng từ hòa của Ngài thôi từ nay đà khuất bóng.

Ngài đã rủ áo trần gian, trở về với bản tính vắng lặng tuyệt đối của chân tâm, sau bao nhiêu năm hiện thân làm một vị tăng sĩ đầy đủ phong thái của bậc Pháp sư đạo hạnh. Ngài ra đi, sự ra đi an nhiên tự tại miên viễn của các bậc thiền giả chân sư như biểu tượng thật thi vị, khoáng đạt, tự tại được thể hiện trong bài thi kệ nổi tiếng của Hương Hải Thiền Sư:

Nhạn quá trường không,

Ảnh trầm hàn thủy

Nhạn vô di tích chi ý

Thủy vô lưu ảnh chi tâm

dịch là:

Nhạn bay lướt trên không,

Ảnh chìm trong đáy nước,

Nhạn không in dấu vết,

Nước chẳng bận lưu hình.

Đấy là đạo phong của các bậc Thiền giả Cao Tăng sau mấy mươi năm trụ thế hoằng hóa độ sinh, công hạnh hoàn mãn, các Ngài trở về với sự vắng lặng tịch diệt an nhiên của Tâm Không - Bản Giác, và hình ảnh đó cũng chính là nguồn động lực để chúng con cung soạn cúng dường mấy dòng thô thiển chân thành ngưỡng vọng một bậc Tôn Sư.

"Nhớ Đức Trưởng Lão tâm Bồ Tát

Kính bậc Cao Tăng hạnh đại bi.”

Ngài là bậc Thiệu Long Thánh Chủng, là vị Tứ chúng Trung Tôn, là hàng đống lương Phật pháp. Suốt hơn 75 năm dấn thân trên con đường phụng sự đạo pháp, quê hương và dân tộc, Ngài luôn luôn quan tâm đến việc đào tạo Tăng tài, xây dựng tòng lâm, thành lập GĐPT Thiện Sinh, kế vãng khai lai, duy trì chính pháp, và chưa hề một lần chùn chân lui bước trước những nghịch cảnh gian nan hay thăng trầm bi thống của vận nước nổi trôi biến thiên sinh diệt.

Nhớ đến Ngài là nhớ đến một vị Sư đức độ khiêm cung, luôn luôn lấy chữ 'Hòa' làm phương châm cuộc sống. Nhớ đến Ngài là nhớ đến một nụ cười nhân hậu, một trái tim bao dung, một ánh mắt thân thương, một bàn tay nâng đỡ. Nhớ đến Ngài là nhớ đến Thường Bất Khinh Bồ Tát hay Bố Đại Hòa Thượng với túi kẹo ngọt thơm mùi quế, luôn tận tay ban phát cho tất cả những ai có thắng duyên được gặp, không phân biệt thân sơ, tôn giáo hay sắc tộc. Nhớ đến Ngài là nhớ đến những bài học Thiền Lâm Bảo Huấn, những câu kinh Trung Bộ A Hàm, những vần thơ thiền vị quê hương, những đạo từ bất khuất uy nghiêm nhưng vẫn chứa chan từ bi hỷ xả.

Quả thật đúng là:

"Đức cảm hóa trong đạo ngoài đời, ánh minh đăng huyền linh sáng rỡ,

Tài hoằng pháp độ sinh khắp chốn, hoa ưu đàm mỉm nụ chiếu soi.”

Ngài đã hy hiến trọn đời mình cho đạo pháp, chúng sinh, quốc gia và dân tộc.Ngay cả đến khi thị hiện căn bệnh trầm kha, dù sắc thân giả tạm đang cảm nhận từng cơn đau xé buốt như hàng ngàn mũi kim nhọn đâm thẳng vào người và trong suốt hơn hai tuần lễ chỉ có vài giọt nước thấm môi, Ngài vẫn thiết tha nhắc nhở hàng đệ tử môn đồ phải khiêm cung, nhu hòa, nhẫn nhục, thương yêu đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau, lấy Giới Luật, Uy Nghi làm áo giáp đức hạnh, lấy trực tâm thành ý khi tiếp nhân xử thế, lấy lý tưởng vô ngã vị tha làm mục tiêu phấn đấu tự thân để thẳng tiến Niết Bàn an lạc, nhưng bi tráng hơn, ánh mắt Ngài vẫn khắc khoải hướng về quê Mẹ Việt Nam thân yêu cách xa hơn nửa vòng trái đất như mong đợi được nhìn thấy lại cảnh thanh bình, ấm no hạnh phúc của toàn dân, của vạn loại chúng sinh.

Cuộc sống hạnh đức trang nghiêm của Ngài là tấm gương phản chiếu cho Ni đồ và PT hậu học chúng con. Cuộc đời hành đạo của Ngài đã nói lên hạnh nguyện lợi tha chẳng khác nào ngọn hải đăng chiếu sáng muôn dặm nơi biển khơi sinh tử. Ngài là hiện tàng tự tại đi ở khôn lường như: "Bóng nhạn liệng giữa trời xanh, đâu mong in dấu chân trên mặt hồ”.

Kính bạch Giác Linh Ngài,

Như Đại Lão Hòa Thượng, Viện Chủ Linh Phong Thiền Uyển đã tán thán Ngài:

"Nước có trong ngoài, biệt tổ ly hương, bảo vệ quốc gia, đức độ còn lưu vạn thuở,

Đạo không nam bắc, vị tha xả kỷ, duy trì Phật Pháp, công huân để lại ngàn thu.”

Trụ thế gần tròn thế kỷ, lạp tuế cũng đã ngoài bảy mươi, việc đáng làm Ngài đã làm, việc đáng nói Ngài đã nói, còn việc gì miên mật bất khả, thì nào đâu cần phải nói ra!

Thế nên như "Cánh nhạn bay lướt trên không, ảnh chìm trong đáy nước, nhạn không in dấu vết, nước chẳng bận lưu hình," cảnh phù trần sắc sắc không không, Đức Trưởng Lão Hòa Thượng Ngài đã vĩnh viễn ra đi, bỏ lại các pháp hữu vi giả tạm, hàng giáo phẩm Tăng già lại mất thêm một thành viên trong đại gia đình họ Thích, tứ chúng mất đi một vị ân sư đã tận lực tận tâm trong tinh thần phụng sự Tam Bảo, môn đồ và pháp quyến mất đi một điểm tựa vững chắc trên bước đường tiến tu tịnh nghiệp. Cõi Sa Bà đã khuất bóng vì sao, miền Cực lạc thêm trang Thượng sĩ, tuy nhiên công hạnh của Ngài đã phụng hiến cho đạo pháp và chúng sinh sẽ còn sống mãi trong tâm tư những người con Phật và vạn loại hàm linh trong ý nghĩa pháp giới vô biên, viên dung vô ngại.

Ngưỡng bạch Giác Linh Ngài,

Để tỏ lòng tôn kính và báo đáp thâm ân Ngài, chúng con thành tâm noi gương cao cả của Ngài, nguyện tích cực tuyên dương chính pháp, nỗ lực thành tựu lý tưởng giải thoát, trang nghiêm Giáo hội, giữ vững tôn chỉ thuần tuý của đạo pháp, thăng hoa trên bước đường hành đạo và hướng dẫn mọi người thẳng tiến trên lộ trình giác ngộ an vui cứu cánh, hầu báo đáp hồng ân Tam Bảo trong muôn một. Dẫu thời gian có đi qua: mười năm, năm mươi năm hay một trăm năm sau, bao thế hệ Ni sinh tiếp nối vẫn phải luôn khắc ghi rằng: "Để có được thành tựu ngày hôm nay là kết quả của bao tâm huyết, bao hy sinh của các bậc Trưởng Lão Cao Tăng Thạc Đức đã phụng hiến trọn đời vì tiền đồ Phật pháp, vì mục đích giác ngộ, vì chí nguyện lợi tha, vì lý tưởng giải thoát sinh tử luân hồi cho vạn loại chúng sinh."

Giờ đây, chúng con khấu đầu chắp tay quỳ trước linh đài, một lòng thành kính đốt nén tâm hương dâng lên cúng dường lên mười phương chư Phật, ngưỡng cầu Giác linh Ngài, thượng phẩm cao đăng, kính nguyện Ân Sư, Liên trì tịch diệt, hồi nhập Sa Bà, hóa độ chúng sinh, viên thành Chính Giác.

Ngưỡng nguyện Giác Linh Ngài trên cao thùy từ chiếu giám.

Nam mô Lưu Phương Tháp, Trúc Lâm Yên Tử, Vĩnh Nghiêm, Phượng Ban Pháp Phái Đệ Lục Thế, Tỳ Khưu Bồ Tát Giới, Thế Giới Việt Nam Phật Giáo, Giáo Hội Thượng Thủ, Trưởng Lão Hòa Thượng thượng Tâm hạ Châu, Liên vị chi giác linh.

Môn đồ Thích Minh Tâm con đê đầu chắp tay khấp bái.

 

 

 8. TRÁI TIM NHÂN ÁI

 Kính dâng Giác linh Đức Trưởng Lão Hòa Thượng

Viện Chủ Tổ Đình Từ Quang

 Tôi còn nhớ như in năm 1961, nước lũ dâng lên ngập hết đồng bằng, ruộng nương vườn tược, tỉnh lỵ và 5 quận trực thuộc tỉnh Châu Đốc. Phái đoàn từ thiện xã hội Phật giáo dưới sự điều hành của Đức Trưởng Lão Hòa Thượng từ Sàigòn lên đường đi tiếp tế cứu trợ cấp tốc. Lúc đó Ngài, tuổi độ trên 40, đang đảm nhiệm trách vụ Phó Hội Chủ Giáo Hội Tăng Già PG toàn miền Nam Việt. Điểm dừng chân của phái đoàn cứu trợ là chùa Tổ Đình Tây An, núi Sam - Châu Đốc.

 Trong dịp nầy, Thầy bổn sư Bửu Thọ chúng tôi sắp đặt cho tôi làm thị giả hầu Trưởng Lão Hòa Thượng, nhất nhất mọi việc không được xao lãng. Thế mà, dù Ngài là một bậc Cao Tăng đứng đầu Giáo Hội, Ngài không bao giờ để cho tôi phụng sự, Ngài thường xuyên bảo tôi đi nghỉ và ăn cơm kẻo đói, và hầu như Ngài đã tự tay làm hết những việc cá nhân từ xếp mùng mền, dẹp chiếu hay thu dọn y phục . . .

 Có được phước duyên hầu cận Đức Trưởng Lão Hòa Thượng, mới thấy được hết sự dung dị trong đời sống tăng sĩ của Ngài. Ngài không hề uống trà ngon hay loại nước gì khác mà chỉ dùng nước mưa nấu sôi để nguội. Suốt từ buổi cơm trưa rồi đi phát quà cứu trợ, mãi đến chiều tối mới trở về chùa Tây An, và mâm cơm chiều cũng chỉ đạm bạc rau dưa . . . vậy mà Ngài chỉ dùng hai, ba miếng đậu hủ trắng chấm với chút muối tiêu là xong bữa. Khí trời ngày đó oi bức ẩm thấp lạ thường, tôi đứng quạt hầu Ngài, nhưng Ngài luôn giơ tay cản lại, nói rằng không khí không oi bức lắm, không cần phải quạt.

 Vài ngày sau, phái đoàn lên xe về thành phố sớm vì Trưởng Lão Hòa Thượng cần phải giải quyết nhiều công việc của Giáo Hội. Dù rất đông người bao quanh để giã từ Ngài, nhưng trước khi lên xe, Ngài vẫn còn nhớ và căn dặn tôi là nếu có dịp lên Sàigòn thì nhờ Sư Huynh tôi là Thượng Tọa Huệ Thới chùa Ấn Quang dẫn đến thăm Ngài.

Thời gian những năm 63 - 67 là khoảng thời gian xảy ra nhiều biến cố xao động của Phật giáo. Đức Trưởng Lão Hòa Thượng đã trãi qua và chịu đựng biết bao nhiêu thăng trầm của quốc gia và Pháp nạn. Mỗi lần tôi có dịp lên thành phố hầu thăm Ngài tại Viện Hóa Đạo, tôi như đọc được những suy tư, khắc khoải về vận mệnh đất nước, tôn giáo và dân tộc in dấu trong đôi mắt của Ngài. Tuy nhiên, tôi nhận xét thấy khi gặp tôi hay bất cứ ai, Ngài vẫn ân cần thăm hỏi và khuyên dạy đủ điều . . . phong thái ung dung tự tại như chẳng có gì xảy ra cả. Năm 1969, khi nghe tin tôi nhập ngũ huấn luyện tại TTHL Quang Trung sau qua quân trường Thủ Đức, Ngài lại cố gắng dành chút thì giờ nhắn nhủ tôi mỗi lần được nghỉ phép, nhớ ghé thăm Ngài và cho Ngài biết tình trạng như thế nào để Ngài tìm phương giúp đỡ.

 Lòng từ bao la của Ngài đối với mọi người, mọi loài thật mênh mông, khó diễn tả hết được. Tôi không phải là đệ tử quy y, xuất gia với Ngài nhưng Ngài không hề phân biệt đối xử, hễ giúp được gì, giúp được ai là Ngài sẵn sàng vươn tay ra liền, không e dè, ngần ngại. Tôi thật sự vô cùng ngưỡng mộ và tôn kính bậc Cao Tăng đức độ như Ngài, và xúc động sâu xa trước tấm lòng từ bi ẩn mật của Ngài biểu hiện qua nụ cười hiền hòa, phong thái khoan dung, hành vi ngôn ngữ điềm đạm, và chí khí bất khuất của Ngài.

 Biến cố 1975 bùng nổ trên đất nước. Bao tang tóc, bi thương, chia ly . . . cha mẹ, con cái, thân bằng quyến thuộc, thầy trò . . . kẻ bị ở lại, người vượt lằn ranh sống chết, tìm tia hy vọng Tự Do. Tôi cũng theo dòng thác lũ vượt biên qua trại tỵ nạn Ga Lăng - Nam Dương, sau đó may mắn tôi được định cư tại Hoa Kỳ, rồi trôi lăn theo nhịp sống mới tại xứ người với nhiều trăn trở, âu lo, phiền muộn, khó khăn khi phải hòa nhập vào nền văn hóa Âu Mỹ đầy xa lạ vào lứa tuổi trung niên như tôi.

 Nhưng thực sự không ngờ nhân duyên hy hữu, năm 1978 tôi nghe tin Ngài đang trụ tại chùa Từ Quang ở Nice (nước Pháp). Thế là vội vàng, tôi hỏi thăm địa chỉ chùa và viết một bức thư gởi đến Ngài ngay, trình bày sự việc tôi và gia đình đã an toàn thoát khỏi Việt Nam. Ngài nhận được tin, viết thơ hồi âm cho tôi an tâm và hỏi tình hình sinh sống cũng như giấy tờ liên quan đến hồ sơ cá nhân của tôi.

 Một thời gian sau, nhân dịp Ngài qua Mỹ lo Phật sự, có ghé đến chùa Giác Hoàng tọa lạc tại Hoa Thịnh Đốn, thủ đô của Hoa Kỳ. Gặp bà Hiệp Lowman, Giám đốc Hội Phật giáo Phụng sự Xã Hội chuyên giúp đỡ người tỵ nạn vượt biên, Ngài đã không quên nhờ bà ấy giúp đỡ tôi cải thiện đời sống cho đỡ phần vất vả. Tuy không phải đệ tử xuất gia, quy y thế độ hay thọ phái gì gì cả . . . nhưng Ngài vẫn tận tâm giúp đỡ cho tôi và chắc chắn cũng có hàng trăm, hàng ngàn người khác cũng đã đón nhận được ân sủng của Ngài.

 Tấm lòng Nhân Ái bao la của Ngài như biển rộng che chở bảo bọc tất cả, không riêng gì loài người mà ngay cả đối với loài súc sinh như chim bồ câu, kiến, v.v. Ngài luôn tự tay ban phát thức ăn cho chúng và nhất là Ngài thích ngắm nhìn đàn chim sà xuống mổ gạo thóc ban rãi và tung cánh bay vào khung trời xanh rộng mênh mông trên cao. Có lẽ những lúc ấy là khoảng thời gian thanh thản nhất, bình yên nhất trong đời Ngài nhớ về quê Mẹ thân thương đã cách xa nửa vòng trái đất và những kỷ niệm xa xưa, giờ chỉ còn là ký ức.

 HƯƠNG ĐỨC ÂN SƯ TRÊN ĐẤT VIỆT

ĐÈN TỪ CÔNG HẠNH RẠNG TRỜI ÂU

 Phụng vì Thế Giới PGVN Đống Lương Tòng Lâm thạch trụ, khai sơn Việt Nam Quốc Tự, Giác Minh, Từ Quang, Phước Hải, Viên Quang, Tào Động chánh tông; Đồng Đắc pháp phái, Đệ Lục thế Thượng Tâm hạ Châu, Đoàn công ĐLTS Tôn Giả liên toà chứng giám tấc lòng thành của chúng con dưới chiếu cỏ hướng vọng Từ Dung đang phó hội Linh Sơn.

 Pháp tử Huệ Thanh Hồng Khoa tự Ngộ Thi cung kính chắp tay bách bái nhân ngày lễ Tiểu Tường húy nhật Đức Trưởng Lão Hòa Thượng.

 

 

9. TẤC LÒNG HOÀI NIỆM

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Kính dâng Giác linh Cố Trưởng Lão Hòa Thượng

Thượng Thủ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Trên Thế Giới

Vầng ô vụt tắt

Một vì sao băng

Ẩn hiện tầng xanh hào quang rực rỡ

Trăng Lăng Già soi tỏ đỉnh non Tây

Bóng hoàng y phất phới ngự đài mây

Trang Thượng Sĩ đã huờn quy bổn vị

Tin nghe qua bàng hoàng rơi lụy

Ôi!Hỡi ôi!

Còn đâu nữa hàng lãnh đạo kỷ cương

Còn đâu nữa bậc Tôn sư khả kính

Mới hay là:

Chư hành vô thường

Thị sanh diệt pháp

Mới tháng trước đây

Xứ Canada miền đất lạnh

Tổ Đình Từ Quang

Khóa Nghiên tu an cư kiết Hạ

Bốn phương Tứ chúng câu hội về

Pháp nhũ ân triêm

Tiếp bước liền chấn tích quang lâm

South Carolina Hoa Kỳ

Tiếp chúng Ni Viên Quang khai thị

Học Đạo Như Lai rạng khêu đèn chơn lý

Đông Tứ chúng đồng tham dự huân tu

Mùa Vu Lan báo hiếu đức ân từ

Nơi hải ngoại mấy mươi năm hoằng pháp

Đại nguyện tuyên lưu, đạo mầu giải thoát

Chứng minh Giác Hoàng cơ sở tùng lâm

Cửa từ bi cứu độ chúng mê lầm

Khơi Nguồn Đạo khai tâm tỏ ngộ

Nhớ Giác linh xưa

Trên quê hương thuở nào miền đất Tổ

Mịt mù trời đầy bom đạn chiến tranh

Rực hồng cơn pháp nạn ngọn lửa hy sinh

Bồ Tát Thích Quảng Đức thiêu thân vì Đạo Pháp

Đối mặt cường quyền nêu cao gương Đại Giác

Bi trí dũng đại lực đại hùng

Đồng cam cộng khổ dấn bước không chùn

Tăng Ni Phật tử quên mình vì chánh nghĩa

Thuở đấu tranh

Cuộc thăng trầm càng thấm thía

Luật vô thường nhân quả chẳng đâu xa

Bóng theo hình tỏ rõ nẽo chánh tà

Gương bất khuất nhu thắng cang như thị

Trải tang thương nước nhà lâm cơn bĩ

Ba mươi năm tròn chiến nạn liên miên

Cảnh tóc tang đau khổ cả hai miền

Bao thảm trạng trải dài trang lịch sử

Nguyện độ sanh ra vào nhà lửa dữ

Hạnh Phổ Hiền nào quản ngại dấn thân

Vượt khó khăn cùng bao nỗi gian truân

Chín mươi lăm xuân thu bất từ bì quyện

Khắp chu du cõi Ta Bà thị hiện

Bước hành đạo trên thế giới độ sanh

Pháp duyên hoằng hóa đạo quả viên thành

Xả báo thân đắc Chơn thân bất hoại

Cõi Niết Bàn tiêu diêu tự tại

Trời Bắc Úc trăng trải sáng đường đi

Chắp tay thành kính nguyện Đấng Từ Bi

Dâng nén tâm hương khói trầm nghi ngút

Tỏa khắp mười phương tấc lòng hoài niệm

Con kính lạy Giác linh thuỳ từ chứng giám

Ngưỡng nguyện giác linh từ bi lân mẫn

Sớm hồi nhập Ta Bà

Độ chúng mê lưu thoát vòng sanh diệt

Sanh diệt diệc dĩ

Tịch diệt vi lạc

Phật quốc cao đăng khắp tỏa từ quang

Phổ độ chúng sanh đồng lên bờ giác

Nam mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật

Nam mô Chứng Minh Sư Bồ Tát Ma Ha Tát

Chí tâm đảnh lễ Giác linh Cố Trưởng Lão Hòa Thượng tam bái

Bakewell, 24/8/2015

Đệ tử Viên Huệ khấp bái

 

 10. NHỚ THẦY

Viên Quang lạc cảnh còn đây,

Mà Thầy về đến Trời Tây mất rồi!

Lòng con đau xót ngậm ngùi,

Nhớ Thầy dòng lệ tuôn rơi lúc nào.

Đã hơn 15 năm, con có duyên gặp Ngài và được gần Ngài nhiều trong suốt quá trình xây dựng Tu Viện Viên Quang bắt đầu từ năm 2008 cho đến năm 2015. Nhìn lại chặng đường dài trải qua nhiều khó khăn vất vả trong quá trình xây dựng Tu Viện, con lại càng ngưỡng mộ và kính thương Ngài hơn, một vị Đại lão Hoà Thượng đã trên 90 tuổi đời mà vẫn không ngừng nghỉ tâm nguyện độ tha Vô-Úy, làm đẹp cho đời, cho Đạo Pháp và cho hạnh phúc, an lạc của chúng sanh.

Con nhớ lại mỗi lần con về tới Tu Viện là con chạy thẳng lên gặp Ngài để đảnh lễ.

- "A Di Đà Phật, thưa Ngài con mới về".

- "Con về rồi hả con? Con có khỏe không? Gia đình ổn cả chứ?"

- "Dạ con và gia đình khỏe, thưa Ngài".

- "Con xuống ăn cơm đi, rồi Thầy trò bàn thảo cho những công trình kế tiếp".

Ôi từ nay, thói quen này sẽ không còn nữa, và những câu hỏi đượm đầy tình thương đó cũng không còn nữa . . . vì Thầy của con đã về với Phật rồi. Mỗi lần nhớ về Tu Viện là con nhớ về Ngài, nhớ dáng đi vững chãi, chậm rãi của Ngài, nhớ giọng nói của Ngài, lòng con lại nhói đau, rất buồn và không thể nào cầm được dòng nước mắt.

Con được sinh ra và lớn lên tại Huế, rồi gia đình sang định cư ở Mỹ năm 1991. Con lại có duyên may sinh hoạt trong Gia Đình Phật Tử Thiện Sinh Liên Hoa tại chùa Liên Hoa, thành phố Charlotte, tiểu bang North Carolina. Từ lâu con đã được nghe rất nhiều Tăng Ni và Phật Tử nói về Ngài. Ngài là vị Trưởng Lão Cao Tăng thạc đức, xả kỷ vị tha và cuộc đời Ngài luôn sống cho Đạo Pháp và dân tộc. Từ ngày đó, trong lòng của con luôn mong ước được có dịp đảnh lễ Ngài, dù chỉ được một lần. Cuối cùng ước mơ của con cũng thành sự thật.

Mùa An Cư Kiết Hạ tháng 7 năm 1999, con đã không đăng ký học thêm các lớp mùa hè ở trường Đại Học mà con đã theo cố Đại Đức Thích Chân Hỷ (đệ tử của Ngài), bay từ Charlotte sang Tổ Đình Từ Quang ở Montreal, Canada tham dự khóa Nghiên Tu An Cư. Thầy Chân Hỷ đã đưa con lên gặp Ngài và đó là lần đầu tiên trong đời con được đảnh lễ hầu thăm Hoà Thượng. Con vô cùng sung sướng và an lạc; sau đó con được tu học cùng chư Tôn Đức Tăng Ni và đông đảo Phật Tử trong mùa An Cư.

Có lần đầu tiên trong lớp giảng của Ngài, e ngại không biết ngồi đâu, đứng đâu . . . nên con âm thầm chọn hàng ghế ngồi phía sau cùng trong góc, bỗng con nghe tiếng Ngài gọi: "Quảng Ngộ đâu rồi con?"

- "Dạ thưa Ngài, con ngồi dưới góc này ạ", con trả lời.

- "Sao con ngồi dưới cùng vậy, con lên phía trước này ngồi đi con", giọng Ngài ôn tồn vui vẻ nói.

Khi đó con ngại lắm, nhưng Ngài đã nói thì mình phải cung kính làm theo. Con đi lên phía trước ngồi mà lòng cứ suy nghĩ rằng mùa An Cư có quá đông Tăng Ni và Phật Tử, sao Ngài nhớ pháp danh của mình hay quá vậy?

Thời gian thấm thoát trôi nhanh, gần một tháng An Cư, con đã được thâm nhập thêm lời Phật dạy qua các bài Kinh giảng của Ngài, làm công quả ở Tổ Đình và nhất là được gần gủi, thân cận theo hầu Ngài. Con cũng được quen biết thêm nhiều Tăng Ni và Phật tử. Sau khi mãn khóa Nghiên Tu An Cư, mọi người được Ngài cho phép tổ chức chuyến đi chơi ở Toronto, Canada rất vui và để lại nhiều kỷ niệm khó phai. Đúng vậy, đây là mùa An Cư mà con không thể nào và cũng không bao giờ quên trong cuộc đời con.

Con có nhiều kỷ niệm về Ngài lắm, nhưng có một kỷ niệm khó quên là vào dịp Đại Lễ Phật Đản tại chùa Pháp Hoa, năm 2008. Đúng ra, Ngài và cố Thượng Tọa Thích Chân Thuận đi máy bay từ Charlotte qua chùa Pháp Hoa thuộc bang Pennsylvania, nhưng vì có chút trục trặc gì đó về vé máy bay nên Ngài quyết định đi xe. Do đó, anh Tâm Thiết (Nguyễn Văn Thi) đã thuê xe đưa Ngài và quí Thầy đi. Anh ấy điện thoại và ghé đón con từ nơi làm việc, trong khi con chưa chuẩn bị gì hết nên con ghé tiệm mua đồ cá nhân rồi đi theo luôn. Bây giờ nghĩ lại, con đoán có lẽ Ngài biết là hai đứa con sẽ là người theo cạnh Ngài trong quá trình xây dựng Tu Viện.

Tại chùa Pháp Hoa, con và anh Tâm Thiết đã có dịp vào họp chung với Ngài và đây có thể coi là lần họp đầu tiên mà chúng con được theo Ngài làm việc Phật sự.Ngài đã phác họa và bàn thảo về những bước khởi đầu cho việc khai sơn Tu Viện Viên Quang trên lô đất rộng hơn 22 mẫu tây tại Clover, South Carolina.

Dù là lần đầu họp mặt, nhưng hình như Ngài rất kỳ vọng và tin tưởng vào chúng con khiến anh em chúng con cảm thấy thật vinh dự nhưng cũng lo lắng không kém, vì chúng con không muốn làm mất niềm tin của Ngài. Năm tháng trôi qua, chúng con đã trở thành tả hữu của Ngài. Anh Tâm Thiết thì lo về ngoại giao còn con thì trong ban thiết kế. Tu Viện Viên Quang từ một mảnh rừng hoang vu nay đã trở thành một thiền môn hùng vĩ và khang trang an tịnh. Thật sự không đơn giản chút nào vì công trình quá lớn, quá tốn kém, quá trang nghiêm, nhất là tại South Carolina, một tiểu bang rất ít người Việt định cư. Con vẫn luôn nhớ câu Ngài nói: "Thầy trò mình làm ghê gớm quá....", rồi hai Thầy trò cùng cười.

Không biết là đã có bao nhiêu việc để lo, để nghĩ, để làm, và công sức của rất nhiều người đã tận tâm tận sức; trên thì có Đại Lão Hòa Thượng, dưới thì nhiều Tăng Ni và Phật Tử gần xa góp công, góp của . . . tuy nhiên cũng không thể không nhắc đến những lời ra tiếng vào từ một số người, nói sau lưng cũng có, nói trước mặt cũng có. Ngay cả có vài vị xuất gia và huynh đệ áo Lam đã không đồng cảm, không ủng hộ mà lại còn bàn lùi nữa khiến cho một số người thoái mất đạo tâm . . . thật rất là buồn, nhưng chúng con và các huynh đệ khác như: Nhật Linh (Nguyên Thính), Lê Phạm Minh Đăng (Trí Viễn), Jame Nguyễn, chị Diệu Hiền (Đặng Kim Kiểm) v.v... luôn tin vào hạnh nguyện độ tha của Ngài và vững tâm làm việc. Hoà Thượng thương và dạy chúng con rằng: "Không sao đâu con, làm việc Phật sự sẽ có Phật lo".

Cho đến bây giờ ai cũng biết rằng: "Chỉ có Ngài, với đức độ và trí tuệ siêu việt của Ngài mới làm nổi công trình Tu Viện Viên Quang lớn lao này". Riêng chúng con được duyên lành theo Ngài làm việc phụng sự Tam Bảo và chúng con đã học được nhiều điều hay, lẽ đẹp, từ bi, vị tha, lợi lạc nhiều trên đường tu học của bản thân.

Sau một, hai năm nỗ lực khai phá rừng cây, kiến thiết, Tu Viện đã có chút thành tựu, hình như mọi người đều nhận ra tâm nguyện và hoài bão của Ngài nên dần dần họ đều trở về chùa và góp sức ít nhiều.Nhắc đến đây, con nghĩ cũng phải nhắc đến công lao chấp tác vất vả âm thầm của thầy Chân Tường, đệ tử lão niên của Ngài. Thầy Chân Tường một mình một bóng, lùi lũi suốt bao tháng trời dưới mưa nắng, chặt cành, quét lá, gom cây, đốt rác, khơi rãnh . . . để bớt đi được chút nào hay chút nấy tịnh tài chi phí nhân công cho chùa. Tu Viện tọa lạc hơi xa cách thành phố, công trình lại nặng: đốn cây, phạt rừng, đào suối, đổ đá lót đường, dựng nhà, v.v. nên mọi việc đều phải mướn nhân công người Mễ và máy móc, vì thế chi phí khai khẩn và vận chuyển rất hao tốn.

Qua công trình kiến thiết Tu Viện Viên Quang, con càng lúc càng ngưỡng mộ kính qúi Ngài hơn, đồng thời học hỏi thực tập theo tác phong đạo hạnh cũng như cách đối nhân xử thế của Ngài. Khi làm việc, Ngài đã giao trách nhiệm gì cho ai thì Ngài tin tưởng ở người đó. Ngài thích công việc luôn được tiến hành nhanh chóng, có kết quả thực tiễn, không nói suông, không hứa hẹn bao đồng. Ngài rất trọng chữ Tín và cũng rất qúi những ai biết tôn trọng tín nghĩa.Dù chỉ là một việc rất nhỏ nhưng một khi Ngài đã hứa hay nói, Ngài tuyệt đối giữ lời, không sai chạy. Ngài cũng rất thương quí cây cối, vì thế trong lúc xây cất, chúng con luôn nhắc nhở nhau phải hạn chế tối đa về vấn đề phá cây, cưa cây . . . Ngài yêu thích phong cảnh thiên nhiên, Ngài thích ngắm nhìn chim bay trên không hay sà xuống từng đàn mổ những hạt gạo Ngài ban rãi cho chúng, Ngài cũng siêng đi bộ mỗi sáng, dù trời lạnh hay nắng . . . nên có thể nói mỗi lần về lại Tu Viện Viên Quang, Ngài rất vui, an lạc, thoải mái. Nơi đâu cũng ghi đậm dấu ấn hình bóng của Ngài. Ngài đặt tên cho từng con đường, các hồ sen, các cây cầu gỗ băng qua suối, các vườn hoa, các dãy nhà như: Bảo Pháp Đường, Đại Giác Điện, hồ Liên Hương, cầu Hiền Lương, đường Chính Niệm . . .Những tên gọi rất 'nhà chùa' đó hình như làm cho những vật thể tĩnh sống động, có linh hồn khiến cho cảnh trí Tu Viện càng thêm sức sống, tươi đẹp hơn nhưng không mất vẻ an tịnh và trang nghiêm.

Nhìn tổng quát Tu Viện Viên Quang có ba ngọn đồi chính và một con suối lớn chảy xuyên qua. Ngài đã đồng ý cách thiết kế như sau:

(1)Đồi Di Đà biểu tượng cho Đức Phật quá khứ; (2) Đồi Thích Ca biểu tượng cho Đức Phật hiện tại và (3) Đồi Di-Lặc biểu tượng cho Đức Phật tương lai.

Qua cổng tam quan, dọc theo con đường nhựa lớn với hai hàng cây thông xanh, khách tham quan sẽ nhìn thấy tôn tượng đức Quán Thế Âm Bồ Tát cao 5 mét với nét mặt trang nghiêm từ bi. Nhiều người nói rằng tượng Quán Âm ở đây rất mầu nhiệm linh thiêng. Không xa từ bên tay phải của đức Quán Âm là Tứ Động Tâm: Phật Đản Sanh và bên trái là Tứ Động Tâm: Phật Chuyển Pháp Luân. Rồi tiếp tục đi băng qua con suối thơ mộng, Hòa Thượng đã dạy cho làm bốn cây cầu gỗ trên bốn đoạn của con suối, và có đường thiền hành dọc theo hai bên bờ suối với những ghế đá ngồi nghỉ chân ngắm cảnh. Khắp tu viện có đường lớn, đường nhỏ nối thông suốt nhau, có nhiều thiền thất. Bên trong các thiền thất có tôn tượng Đức Bổn Sư Thích Ca hoặc tôn tượng Bồ Tát Quán Âm đứng rất đẹp.

Trên đỉnh Đồi Di Đà, Ngài đã cho xây khuôn viên với tôn tượng Đức Phật A Di Đà cao 5 mét và theo dự kiến sẽ có thêm 10 tôn tượng Đức Phật A Di Đà, mỗi tượng cao 2 mét đứng dọc theo hai bên. Mỗi khi lên đây, tâm con cảm nhận được nhiều an lành khi lạy Phật Di Đà và ngồi tịnh tâm. Trên đồi nhìn xuống, ngay dưới chân đồi là đài tượng Đức Quán Âm ngồi bằng đồng. Phía dưới bên trái là Tứ Động Tâm: Phật Thành Đạo. Phía dưới bên phải là hồ sen Liên Hương, với hai cây cầu nhỏ bắc vào chân bệ tượng Bồ Tát Quán Âm ở ngay giữa hồ sen.

Hằng năm, vào độ tháng Bẩy, mùa Hạ về, hoa sen nở tung cánh rực rỡ dưới ánh nắng chan hòa, và hương sen thơm ngát cả vùng đất trời . . . ai ai cũng đều trầm trồ xuýt xoa vì quá đẹp, quá thơ mộng . . . Một cảnh trí thật khó tìm trên đất Mỹ xa hoa này; một cảnh trí đong đầy tình tự quê hương Việt Nam; một cảnh trí trang nhã thanh khiết tượng trưng cho lý tưởng Bồ Tát đạo - phụng sự chúng sanh tức cúng dường chư Phật của Tăng sĩ Phật giáo nguyện vì an lạc giải thoát sanh tử của muôn loài.Nhà thơ Chu Hà đã vịnh hoa sen như sau:

 Nguyện hiến châu thân giải bụi hồng,

Sa Bà thế giới giữ tâm trong.

Sắc không khoe sắc dù xuân ấm,

Hương thoảng mùi hương dẫu hạ nồng.

Kính Phật xây đài đâu kể đức,

Thương người ghép nhụy chẳng khoe công.

Danh vang quân tử đời xưng tụng,

Tế đạo phò nguy trọn hết lòng.

Trên Đồi Thích Ca thì có tháp Đại Hồng Chung cao ba tầng với quả chuông đồng to lớn đường kính đến bốn, năm sãi tay. Tiếng chuông ngân trầm bổng lúc sáng sớm và lúc chiều để cầu nguyện cho âm dương đều lợi, ba cõi đều lành, pháp giới chúng sanh đồng thành Phật Đạo.Ngay giữa đỉnh đồi là tôn tượng Đức Phật Thích Ca oai nghi hùng vĩ ngự trước mặt căn Đại Giác Điện rộng 3,000 bộ vuông. Có nhà Tăng: Bảo Pháp Đường cao hai tầng, rộng 6,000 bộ vuông với hành lang gỗ có mái che chung quanh. Phật tử thường tề tựu về đây trong những ngày lễ lớn nhỏ và các khóa tu học. Trưởng Lão Hòa Thượng dạy Tăng Ni ở Tu Viện nên thường tổ chức các khóa tu học ngắn hạn, lễ Ngũ Bách Danh và trì tụng Chú Đại Bi cho Phật tử.

 Tiếp nối với Đồi Di Lặc là cầu gỗ tên Hiền Lương. Trên đồi này có sân rộng với tôn tượng Đức Di Lặc rất lớn, nét mặt cười hoan hỷ. Chung quanh sân là Thập Bát La Hán bằng đá trắng theo hình bán nguyệt mà Hòa Thượng đã dạy con thiết kế. Xuống dưới là những bậc thang rộng có Bát Đại Kim Cang dọc hai bên và dưới cùng là hai con rồng, tác phẩm làm bằng tay của thầy Đạo Chí. Khi đứng trên đồi hay dưới đồi đều thấy cảnh trí trang nghiêm hùng vĩ. Phía phải là Tứ Động Tâm: Đức Phật Nhập Niết Bàn. Đồi Di Lặc còn rộng lớn chưa khai phá thêm. Ngài cũng định xây chánh điện chính của Tu Viện trên đồi này nhưng chưa đủ duyên.

Bên kia suối là vườn hoa An Tịnh, nơi đây có tượng của Hòa Thượng đứng trên Lưu Phương Tháp. Nhìn không xa từ tháp của Ngài là hồ sen thứ hai. Tượng của Ngài làm bằng đá trắng cao 2 mét, được điêu khắc rất đẹp, với hình dáng rất quen thuộc, nét mặt hiền từ, nụ cười đôn hậu thân thiện. Tay trái Ngài cầm tràng hạt và tay phải chống cây gậy mà chúng ta thường thấy Ngài cầm lúc còn tại thế.Giờ đây mỗi khi về thăm tu viện con chỉ được hầu chuyện với tượng của Ngài thôi. Con luôn nghĩ rằng, ở trên cao Ngài vẫn nghe được những gì con nói và thấy những gì con làm. Viết đến đây, con không thể nào nén khóc được . . . Pho tượng Ngài đứng đó trong đêm trường tĩnh mịch của núi rừng, sừng sững như cây tùng giữa phong ba, thật oai phong lẫm liệt nhưng sao cũng thật cô đơn, và con mỗi lần về lại Viên Quang, cũng thấy lẻ loi, cô đơn! Tu Viện Viên Quang vắng bóng Ngài giờ sao vắng vẻ quá, tịch liêu quá!

Mấy tháng đầu năm 2015, mỗi khi con lên hầu thăm Ngài và lo công việc theo lời Ngài dạy, Ngài hay nói với con "Thầy trò cố gắng làm cho xong mấy việc còn lại vì không biết lúc nào vô thường đến". Có thể Ngài đã biết chắc được rằng Ngài không còn bao nhiêu thời gian nữa. Ngài muốn chu toàn tất cả mọi việc cần làm để những vị kế thừa không phải lo toan quá nhiều. Quả thật tâm lượng Ngài như thái hư, mênh mông như biển cả.

Giữ đúng lời hứa với chư Ni, mặc dù Ngài đã cảm nhận sức hoành hành kịch liệt của căn bệnh ung thư tụy tạng đang tàn phá châu thân, Ngài vẫn ung dung bỏ ngoài tai lời khuyên can của các bác sĩ, bước lên máy bay từ Tổ đình Từ Quang, Canada về Tu Viện Viên Quang để chứng minh khóa Hạ đầu tiên của chư Ni vào trung tuần tháng 7 năm 2015. Trong thời gian này, Ngài đã ân cần tha thiết dặn dò, nhắn nhủ mọi điều đến chư Tôn Đức Tăng Ni và Phật Tử khiến mọi người đều linh cảm chuyện chẳng lành, nhưng không một ai dám nói ra. Chiều 31 tháng 7 năm 2015, con lên đảnh lễ và vấn an Ngài như thường lệ mỗi khi Ngài về Tu Viện. Lần nào thấy con, Ngài đều rất vui, nhưng lần này con nhìn thấy gương mặt Ngài nhuốm vẻ buồn. Hầu chuyện Ngài và trình bày lên Ngài mấy dự án đã và đang tiến hành ở Tu Viện một lúc, nghe Ngài dạy bảo vài việc, con chợt lặng người đi khi nghe Ngài nói: "Lần này Thầy đi thật rồi!" Cố gắng kìm nén cơn xúc cảm, con thưa: "Con và mọi người luôn cầu xin Thầy khỏe mạnh để lo cho Giáo Hội và dẫn dắt chúng con trên con đường tu học". Ngài không nói gì thêm.Con lại thưa tiếp: "Thưa Thầy, Thầy yên tâm, con sẽ luôn cố gắng chăm lo cho Tu Viện". Nói xong thì chị Diệu Hiền (Đặng Kim Kiểm) đến vấn an Ngài và xin Ngài chụp mấy tấm hình lưu niệm. Tấm hình đầu tiên con thấy nét mặt Ngài có chút buồn, nhưng sau đó Ngài nói với con và chị Diệu Hiền: "Lần này cười cho đẹp nhé!”. Đây là những tấm hình sau cùng mà con và chị Diệu Hiền đã có phước duyên được chụp chung với Ngài.

Khóa An Cư ngắn hạn ở Tu Viện Viên Quang vừa kết thúc, thì sáng hôm sau ngày 03 tháng 8 năm 2015, Hòa Thượng cấp tốc trở về Tổ Đình Từ Quang ngay vì căn bệnh đã đến hồi trầm trọng nguy kịch rồi; và chỉ hai tuần lễ sau thôi, Thầy của chúng con viên tịch qui Tây vào ngày 20 tháng 8 năm 2015. Ngài ra đi là một sự mất mát quá lớn cho Giáo Hội và hàng Tăng Ni Phật Tử khắp nơi trên thế giới.

Tròn mười sáu năm! Mười sáu năm từ ngày đầu tiên con đảnh lễ Ngài vào mùa An Cư tháng 7 năm 1999 tại Tổ Đình Từ Quang, Canada đến lần sau cùng con được đảnh lễ Ngài vào mùa An Cư tháng 7 năm 2015 tại Tu viện Viên Quang, và cũng tròn bẩy năm, kể từ tháng 8 năm 2008 cho đến tháng 8 năm 2015, con được phước duyên hầu cận Ngài để lo cho công trình lớn lao cuối đời của Ngài tại Tu viện Viên Quang, Clover, South Carolina, USA. Thời gian mười sáu năm nghe thì dài mà sao ngắn ngủi thế! Ôi, con đã học được những gì từ Ngài, bậc Ân Sư cao cả của con . . . và con đã mất những gì khi giờ đây không còn Thầy nữa.Tìm đâu, biết tìm đâu hình bóng Thầy, giờ chỉ còn là trong mơ và trong vùng ký ức bi thiết của đứa đệ tử mông muội này của Thầy.

Từ cõi Cực Lạc, xin Thầy chứng minh, con cúi đầu năm vóc thành tâm đảnh lễ Thầy với những dòng nước mắt cảm niệm ân sâu mà Thầy đã thương và dạy dỗ con trong suốt thời gian qua. Nam Mô A Di Đà Phật!

Thầy về cảnh Phật thanh nhàn,

Bơ vơ con bước lang thang hồng trần.

Nhớ Thầy dạy bảo tu thân,

Bồ Đề giác ngộ giác tha tinh cần.

Đệ tử Bồ Tát Giới,

Giác Hải (Quảng Ngộ) đê đầu chắp tay đảnh lễ Ân Sư.

Charlotte, North Carolina, USA

Ngày 20 tháng 4 năm 2016

 Tuy vẫn còn vài công trình nữa mới hoàn tất ước nguyện tạo dựng Tu Viện Viên Quang, nhưng Ngài vẫn rất vui Cuối đời của Ngài với tuổi đời 95. 

 

 11. KHÓC BIỆT ÂN SƯ

TRƯỞNG-LÃO HÒA-THƯỢNG THƯỢNG TÂM HẠ CHÂU

Ngưỡng bạch Giác linh Trưởng lão HT ân sư

Lạy Thầy kính yêu,

Thế là Thầy đã giã biệt chúng con để đi vào Cõi Phật, sau 95 năm trụ thế để hóa độ chúng sinh, hiển dương Phật pháp. Hàng sơ cơ hậu học chúng con đã có phúc duyên được hầu hạ dưới chân Thầy trong 30 năm cuối, nơi đất khách, quê người. Ba mươi năm đã trôi qua, mau chóng như một giấc mộng, nhưng chứa đựng biết bao nhiêu kỷ niệm có vui có buồn và đều thấm nhuần ân tình sư đệ.

Ba mươi năm qua cũng là thời gian mà chúng con đã được nhận ân sủng của Thầy, giáo hóa chúng con bằng thân-giáo, qua chính những cách cư sử của Thầy, trong đạo, ngoài đời, chứa đầy đức từ bi của Nhà Phật cũng như lòng nhân hậu của Nho gia. Đệ tử chúng con đã học được rất nhiều trong cách đối sử với các bạn đồng môn, đồng đạo, và đồng bào; cũng như đối với quốc gia, dân tộc và đạo pháp.

Hồi tưởng lại khi Quê Hương còn đắm chìm dưới ách ngoại bang, đôi lúc có hai, ba binh đoàn ngoại quốc cùng sâu xé đất Mẹ, tạo nạn đói năm Ất Dậu, sát hại hàng triệu dân lành. Trong cảnh lầm than đó, Thầy đã tận lực gom xác nạn nhân chết trên đường, chết dưới gầm cầu, nhiều khi xác của cả nhà, để siêu độ và hỏa táng.

Khi Đất Nước bị chia đôi vì quốc nạn, Thầy đã chọn miền đất lành để gieo trồng hạt giống Từ Bi, tiếp tục sứ mệnh của một trưởng tử Như Lai tại Miền Nam hiền hòa. Kịp đến Pháp nạn thập niên 60, Thầy gạt nước mắt, vén tay áo, cùng hàng giáo phẩm và chúng giáo đồ xông vào rừng đao, trận kiếm, với hai bàn tay trắng và tấm lòng son, kiên gan bảo vệ Đạo Pháp.

Tàn cơn Pháp nạn , Thầy đã gia công gieo trồng vun xới hạt bồ đề để Phật Giáo có cơ hội phát triển rực rỡ hơn xưa. Thời gian Thầy trụ tại Viện Hóa Đạo tương ứng với thời kỳ PG Miền Nam hưng thịnh và phát triển. Tiếng lành lan truyền đến các nước lân bang, gây niềm phấn khởi cho PG đồ toàn Thế giới. Đó chính là lúc PG VN qui tụ giáo chúng thành một khối, bao gồm nhiều tông phái, tông môn, sau bao nhiêu thế kỷ phân tán trong dân gian.

Nhưng tiếc thương thay, bao công phu, nỗ lực của Thầy để gây dựng và phát triển PG Miền Nam đã trong giây phút tan rã khi những người mang dép lạ, tiến chiếm Miền Nam trù phú. Trước đại nạn Tháng Tư Đen, Thầy đang trên đường làm Phật sự, đã quyết định chọn Tự Do,không trở về quê nhà, nơi ác quỷ tung hoành, gây bao nghiệp chướng. Thầy đã tạm trú trong đôi ba quốc gia trước khi quyết định thường trú tại Gia Nã Đại. Từ nơi đây như điểm xuất phát, Thầy đã gieo rắc những hạt giống Từ Bi đầu tiên trên Miền Bắc Mỹ Châu, xuyên qua sự thành lập và phát triển các tự viện Liên Hoa, Chân Như, Di-Đà tại Canada hay Giác Hoàng tại Hoa kỳ. Và tiếp theo còn biết bao cảnh già lam khác, trong suốt 30 năm trường.

Trong quãng đời dài ngót một thế kỷ, Thầy đã dùng 30 năm cuối cùng để tận lực đấu tranh cho Quê-Hương, Dân tộc đang đắm chìm trong lửa đỏ, oan khiên chất cao hơn núi. Cuộc tranh đấu cuối cùng này tuy chưa đạt được kết quả mong muốn nhưng nó tương xứng với cuộc tranh-đấu cho tự-do tôn-giáo trong thập niên 60. Tấm lòng son sắt của Thầy đối với Quê-Hương, Dân Tộc và Đạo Pháp đã không hề phai nhạt với thời gian, trong hai cuộc chiến dành tự-do trong tay các thể chế độc-tài toàn-trị, khuynh-hữu và khuynh-tả. Cuộc đời của Thầy cứ như thế, gắn liền với dòng sinh-mệnh của dân-tộc, trong sáng như ánh Đạo Vàng, đẹp như lòng Từ Bi và thơm ngát mùi hoa Sen thanh-khiết. Đó chính là tấm gương rực rỡ muôn đời để chúng con chiêm ngưỡng và nguyện cố gắng noi theo, trong muôn một.

Thầy ơi !

Vài phút nữa đây nhục thân Thầy rồi sẽ thành tro bụi trong sát na, nhưng trí tuệ Thầy vẫn sáng chói như Ngọc Ma-ni.

Thân xác tứ đại Thầy như núi Thái, cũng sẽ suy sụp. Nhưng Đức độ Thầy vẫn sừng sững như núi Tu Di, làm cột trụ cho hàng hậu học chúng con noi theo.

Khi sinh-tiền, Thầy là ngọn hải đăng hướng dẫn chúng sinh trong cơn bão táp. Khi viên tịch, Thầy là ngôi sao Bắc Đẩu khai đường, chỉ nẻo cho mọi sinh linh.

Thầy ơi !

Chúng con biết là Thầy mất ở quốc độ này để hóa sinh sang quốc độ khác. Nhưng dù biết thế chúng con cũng không tránh được dòng cảm thương Thầy trong phút giây cuối cùng này.

Thầy ơi ! Thầy ơi!

Thầy mãi mãi vẫn sống trong lòng chúng con ! Mãi mãi ....

Phật tử Tổ Đình Từ Quang Canada,
Tuệ Bảo,

Ngưỡng cầu chư Phật thùy từ đón tiếp giác linh Hòa Thượng ân sư.

NAM MÔ TIẾP DẪN ĐẠO SƯ A DI ĐÀ PHẬT.

 

 

12. ĐỨC VIÊN PHÚC NGHIỆP

 Âm:

Bát niên viên tịch cảm thăng hoa,

Linh giác an nhiên chủng Phật-Đà.

Tứ chúng Đức-Viên tuân giáo-chỉ,

Duy-trì, phát-triển cẩm thiêm hoa.

Thời khóa chuyên trì niệm bất vong,

Lợi sinh phục vụ chí tương đồng.

Tân trang kiến thiết song hành hiện,

Thế, đạo viên dung vạn sự thông.

Nghĩa:

Sư Bà viên-tịch tám năm.

Nối chân Phật-Tổ siêng chăm đạo mầu.

Đức-Viên bốn chúng cùng nhau,

Duy-trì, phát-triển gấm màu thêm hoa.

 Chuyên trì tụng niệm thiết tha,

Đồng tâm săn sóc nếp nhà lợi sinh.

Sửa sang, kiến thiết tận tình,

Đạo, đời muôn sự viên thành đáng khen.

 San Jose: 26.03.2007

Trưởng-Lão Hòa-Thượng Tâm-Châu

lưu niệm

 

 

13. PHONG THÁI ĐỨC-VIÊN

 Biến cố bảy lăm (1975) tạo não nề,

Đạo, đời chung phận phải rời quê.

Sư Bà Đàm-Lựu hai tay trắng,

Tạo lập Đức-Viên thực gớm ghê !

 Giấy báo, lon bia với các-tông,

Lượm về đem bán để hưng công.

Nguy nga phạm-vũ lòng đô thị,

Rầm rập xe qua nức cõi lòng.

 Tạo dựng lòng tin, tạo món chay,

Đỡ phần lo lắng cả đêm ngày.

Lập trường dạy trẻ, mời Tăng giảng,

Bố thí, in kinh phổ biến đầy.

 Vào ngày giờ tốt buổi đầu xuân *

Thị tịch an nhiên, thể nhập thần.

Hỏa hóa nhục thân lưu xá lợi,

Đức-hương lan tỏa khắp xa gần.

 Từ đấy làm ai cũng nghĩ, lo,

Duy trì, phát triển rạng cơ đồ !

Hồng ân Tam Bảo thường gia hộ,

Thuyền giác thênh thang đạt bến bờ.

 Đệ tử chuyên cần tiếp dấu xưa,

Tu hành không quản nắng cùng mưa.

Xả thân vì đạo, gương Thầy Tổ,

Cùng dắt nhau lên đạo Nhất-thừa.

San Jose ngày 19.08.2003

* Mùa Xuân Bắc-Mỹ vào tháng 3 dương lịch.